Giới thiệu về hai nguyên âm /ʌ/ và /ɜː/ trong bảng nguyên âm

Bài viết giới thiệu về hai nguyên âm /ʌ/ và /ɜː/ trong bảng IPA của nguyên âm
Published on
gioi-thieu-ve-hai-nguyen-am-va-trong-bang-nguyen-am

Bài viết trên là tiếp nối series bài viết về các nguyên âm trong bảng IPA về nguyên âm. Có nhiều thí sinh được giới thiệu qua bảng sau nhưng lại chưa biết cách học đúng. Bài viết trước đã giới thiệu về hai âm tương đối khó, là /ʊ/ và /u:/. Đến với bài viết ngày hôm nay, thí sinh sẽ làm quen với hai nguyên âm mặc dù dễ phát âm nhưng cũng đồng thời dễ bị nhầm lẫn: /ʌ/ và /ɜː/

Key takeaways

  1. Nguyên âm /ʌ/ được phát âm với các bộ phận khoang miệng ở vị trí thoải mái, không căng và âm phát ra ngắn

  2. Nguyên âm /ɜː/ được phát âm với các bộ phận khoang miệng ở vị trí thoải mái, không căng và âm phát ra dài

  3. Nguyên âm /ɜː/ khi được phát âm theo giọng Mỹ sẽ được cong lưỡi, còn theo giọng Anh sẽ không cong lưỡi

Khái niệm nguyên âm cũng như cấu tạo của bảng nguyên âm đã được giới thiệu trong bài viết trước. Thí sinh có thể tham khảo cụ thể hơn tại đây.

Vị trí của hai nguyên âm /ʌ/ và /ɜː/ trong bảng nguyên âm

image-alt

Nhìn vào bảng nguyên âm bên trên, có thể thấy /ʌ/ và /ɜː/ khác biệt với những nguyên âm được giới thiệu trước đây trong series. Các nguyên âm “i”, “a", “u”, “o” dù dài hay ngắn đều phân bố ở phần cạnh của bảng nguyên âm. Điều này nghĩa là các nguyên âm này được tạo ra với phần trước hoặc cuống lưỡi nâng cao trong khoang miệng. Còn với hai nguyên âm /ʌ/ và /ɜː/, hai âm này được tìm thấy ở cột “Central” của bảng nguyên âm, đồng nghĩa với việc khi hai nguyên âm này được phát ra thì toàn bộ lưỡi được nâng lên một độ cao vừa đủ, thấp hơn so với những âm ở cạnh của bảng. Còn khi xét về độ mở miệng (cột bên trái), thì /ʌ/ lại có độ mở lớn hơn /ɜː/.

Nguyên âm /ʌ/ (nguyên âm “ơ” ngắn)

Nguyên âm /ʌ/ còn được biết đến với tên Nguyên âm không tròn môi, dòng sau với miệng tương đối mở (Open-mid back unrounded vowel). Dựa vào bảng nguyên âm, có thể thấy /ʌ/ có độ mở của miệng tương đối giống với /æ/ hay /ɒ/, chỉ khác nhau ở vị trí đặt lưỡi.

Hình bên dưới miêu tả vị trí của các bộ phận miệng khi phát âm âm /ʌ/:

image-altTheo mô tả trên hình, âm /ʌ/ được phát âm với lưỡi hạ thấp (tongue down). Ngoài ra môi và hàm của người nói cũng sẽ được thả lỏng (relaxed lips, relaxed jaw) với âm này. Có thể thấy sự tương đồng giữa âm này với âm của nguyên âm “ơ” trong tiếng Việt, nhưng với sự khác biệt nằm ở độ dài. Cụ thể hơn, âm /ʌ/ được phát âm ngắn hơn so với âm của nguyên âm “ơ”. Thí sinh có thể thử phát âm hai từ “sun” (mặt trời) và “sơn” trong tiếng Việt để thấy sự khác biệt này. Lúc này nguyên âm lõi của “sun” sẽ được phát âm ngắn và dứt khoát hơn so với “sơn”. Thí sinh có thể luyện tập câu “My brother’s coming to study in London next month” (Anh tôi sẽ đến học tại London vào tháng sau) để nắm vững hơn cách phát âm của nguyên âm này.

Trong một từ, nguyên âm /ʌ/ có nhiều cách biểu hiện khác nhau:

  • Trong một số từ có chứa nguyên âm “u” như “fun” (vui chơi), “cut” (cắt), “luck” (may mắn), “cup” (cốc nước). Thí sinh có thể lưu ý rằng những từ này không có nguyên âm “e” ở cuối từ, vì khi đó nguyên âm “u” sẽ được phát âm thành /u:/ thay vì /ʌ/. Hãy cùng quan sát sự thay đổi phát âm giữa hai từ “cut” (/kʌt/) và “cute” (/kju:t/)

  • Trong một số từ đa âm tiết có chứa nguyên âm “o” như “colour” (màu sắc), “mother'“ (mẹ), “nothing” (không có gì). Thí sinh cũng có thể nhận thấy trong những từ này, nguyên âm “o” luôn là nguyên âm mang trọng âm. Đây cũng là một cách để nhận diện nguyên âm /ʌ/ trong một từ: Được viết bằng nguyên âm “o” và mang trọng âm. Nhưng đây không phải là một quy tắc bất biến, một trường hợp phát âm khác của nguyên âm “o” chính là âm /ɒ/, thường tìm thấy ở âm tiết đầu tiên như trong “honest” (thật thà), “posture” (dáng đi).

Nguyên âm /ɜː/ (nguyên âm “ơ” dài)

Nguyên âm /ɜː/ còn được biết đến với tên gọi Nguyên âm dài, không tròn môi, dòng giữa với miệng tương đối mở (Long open-mid central unrounded vowel). So với tên gọi của nguyên âm /ʌ/, có thể thấy không có nhiều sự khác biệt giữa hai nguyên âm này. Cả hai đều là nguyên âm không tròn môi, với miệng tương đối mở (có thể thấy thông qua vị trí của hai nguyên âm này trong bảng nguyên âm). Khác biệt nổi bật giữa hai nguyên âm này nằm ở chỗ /ʌ/ là một nguyên âm ngắn, còn /ɜː/ là nguyên âm dài.

Vị trí của các bộ phận khoang miệng khi phát âm nguyên âm /ɜː/ được miêu tả trong hình bên dưới:

image-altNhững miêu tả về bộ phận khoang miệng đối với nguyên âm /ɜː/ cũng không quá khác biệt so với nguyên âm /ʌ/. Cả hai đều được phát âm với môi, lưỡi và hàm dưới đặt một cách thoải mái, ở những vị trí tương đối thấp hoặc mở. Nếu so sánh với nguyên âm “ơ” trong tiếng Việt, thì lúc này /ɜː/ lại được phát âm dài hơn. Thí sinh có thể thử phát âm hai từ “hurt” (đau) và “hớt” trong tiếng Việt để thấy sự khác biệt về độ dài này. Thí sinh có thể thử phát âm câu “I heard that your birthday’s on Thursday the thirty-first” (Tôi nghe đồn sinh nhật bạn là vào Thứ Năm ngày 31)

Trong một từ thì nguyên âm /ɜː/ có nhiều hình thức biểu hiện, trong đó bao gồm:

  • Những từ có chứa tổ hợp “ir” như trong “bird” (chim), “skirt” (váy). Tuy vậy nếu phía sau tổ hợp này là nguyên âm “e”, vần “ire” (như trong “tired” (mệt mỏi), “desire” (mong muốn)) sẽ được phát âm thành nguyên âm ba /aɪə/, nguyên âm này sẽ được giới thiệu ở một bài sau.

  • Những từ có bắt đầu bằng tổ hợp “wor” như trong “word” (từ vựng), “worse” (tệ hơn), “work” (làm việc)

  • Những từ có chứa tổ hợp “ur” như trong “turn” (lượt), “burn” (đốt cháy), “curse” (nguyền rủa). Tương tự như tổ hợp “ir”, nếu phía sau là nguyên âm “e”, vần “ure” (như trong “cure” (chữa trị), “pure” (tinh khiết)) cũng sẽ được phát âm khác đi, lúc này như nguyên âm đôi /ʊə/.

  • Một số từ có chứa tổ hợp “our” như trong “journey” (chuyến đi), "journal” (sổ tay).

  • Một số từ có chứa tổ hợp “ear” như trong “learn” (học hỏi), “earth” (trái đất), “heard” (quá khứ của “hear” - nghe)

  • Những từ có chứa tổ hợp “er” như trong “Germany” (nước Đức), “university” (trường đại học), “dessert” (tráng miệng), “service” (phục vụ),… Điều đáng nói ở đây là đây đều là những từ đa âm tiết, và trọng âm luôn nằm ở nguyên âm “er”. Đây cũng là một cách để nhận diện nguyên âm /ɜː/ trong một từ có chứa “er”: Là âm tiết mang trọng âm trong từ đa âm tiết.

Sự phân biệt về giọng Anh và Mỹ khi phát âm âm /ɜː/

Giọng Mỹ (American accent) là được gọi là một giọng có cong lưỡi (rhotic accent), nghĩa là khi trong một từ có xuất hiện nguyên âm theo sau là phụ âm “r” thì nguyên âm đó sẽ đi kèm với một sự cong lưỡi. Còn giọng Anh là một giọng không cong lưỡi (non-rhotic accent), nên những trường hợp trên sẽ chỉ được phát âm như một nguyên âm dài. Sự phân biệt này đã được giới thiệu ở bài viết về hai nguyên âm /ɑː/ và /æ/. Tại phần này, bài viết muốn mở rộng sự phân biệt này đến nguyên âm /ɜː/ ở cả hai giọng. Nếu căn cứ theo tính chất giọng Mỹ thì /ɜː/ sẽ được phát âm với lưỡi cong lên (được ký hiệu là /ɝː/. Bảng bên dưới tóm tắt sự khác biệt giữa các nguyên âm theo hai giọng:

image-altNgoài ra, trong tiếng Anh còn có sự xuất hiện của một âm “ơ” khác, âm này xuất hiện dưới rất nhiều hình thức khác nhau. Một trong những hình thức đó là khi một từ tận cùng bằng tổ hợp “-our” hoặc “-er” và âm tiết chứa nguyên âm này không được nhấn trọng âm, chẳng hạn như trong từ “teacher” (giáo viên), hoặc “colour” (màu sắc). Khi đó những âm tiết này sẽ được phát âm với nguyên âm /ə/, đây là một nguyên âm được phát âm ở trạng thái thoải mái nhất, với vị trí các bộ phận khoang miệng tương tự như /ɜː/ nhưng độ dài ngắn hơn.

Điều đáng chú ý ở đây đó là tính chất cong lưỡi của giọng Mỹ cũng áp dụng với nguyên âm này. Bên dưới là mục tiêu đề của từ “teacher” theo từ điển Cambridge, với cách phát âm của hai giọng Anh (ký hiệu là UK), và giọng Mỹ (ký hiệu là US).
image-altCó thể thấy, tại giọng Mỹ, biểu tượng của nguyên âm /ə/ có thêm một phần móc nho nhỏ, báo hiệu sự cong lưỡi của nguyên âm này. Còn ở giọng Anh, có biểu tượng một chữ “r” nhỏ, báo hiệu rằng nếu hiện tượng nối âm có xảy ra, âm /r/ sẽ được chêm vào giữa. Cụ thể về âm ə/ và những hình thức biểu hiện sẽ được giới thiệu cụ thể hơn ở bài tiếp theo.

Ôn tập và thực hành

  1. Hãy xác định từ có phần gạch dưới được phát âm với những từ còn lại:

    1. duty - study - buddy - rusty

    2. honorary - modesty - monthly - solitary

    3. cherish - berry - herring - verbal

    4. flourish - hourly - sourdough - devour

  2. Hãy cho biết những từ nào trong số những từ dưới đây có phần gạch dưới được phát âm là /ɜː/: courtroom, mourning, floortile, courtesy, empire, firm, beard, heard

Đáp án phần Ôn tập và thực hành:

  1. Bài tập 1:

    1. duty (/ju:/, còn lại /ʌ/)

    2. monthly ( /ʌ/, còn lại /ɒ/. Điều này có thể đoán được nhờ phát âm của gốc từ “month” - /mʌnθ/)

    3. verbal ( /ɜː/ , còn lại /e/. Điều này có thể đoán được nhờ phát âm của gốc từ “verb” - /vɜːb/ )

    4. flourish (/ɜː/, còn lại /aʊə/. Mặc dù từ “flour” (bột) cũng có vần “our” được phát âm là /aʊə/ nhưng từ “flourish” (phát triển, nảy nở) không có mối liên hệ nào với từ này nên cách phát âm cũng khác)

  2. Bài tập 2: courtesy, firm, heard. Còn lại: courtroom, mourning, floortile đều có phần gạch dưới phát âm là /ɔː/, empire có phần gạch dưới phát âm là /aɪə/, “beard” có phần gạch dưới phát âm là /ɪəd/.

Kết luận

Hai nguyên âm /ʌ/ và /ɜː/ nhìn chung là hai âm tương đối dễ phát âm đối với thí sinh người Việt bởi sự tương đồng với nguyên âm “ơ” trong tiếng Việt. Tuy vậy, cả hai nguyên âm đều có nhiều hình thái xuất hiện khác nhau và những hình thái này có thể có những cách phát âm khác nhau ở những từ khác, nên thí sinh cũng cần phải lưu ý về những trường hợp được liệt kê bên trên.

Tài liệu tham khảo:

English Pronunciation In Use, Elementary, Jonathan M. Marks (2007)

0 Bình luận
(0)
Bạn cần để có thể bình luận và đánh giá.
Đang tải bình luận...