Banner background

Nghệ thuật chèo là gì? Nguồn gốc, đặc trưng và giá trị của chèo

Tìm hiểu những kiến thức đặc trưng về nguồn gốc, đặc trưng, thành phần và giá trị của nghệ thuật chèo trong chương trình Ngữ văn 10.
nghe thuat cheo la gi nguon goc dac trung va gia tri cua cheo

Key takeaways

Nghệ thuật chèo là loại hình sân khấu dân gian đặc sắc của dân tộc Việt Nam, nó được hình thành và phát triển từ đời sống văn hóa làng xã. Bài viết giúp làm rõ nguồn gốc, những đặc trưng nổi bật về nguồn gốc, các nét đặc trưng, nghệ thuật biểu diễn và đồng thời khẳng định các giá trị của nghệ thuật chèo truyền thống.

Nghệ thuật chèo là một loại hình sân khấu dân gian tiêu biểu của dân tộc Việt Nam, hình thành, phát triển và gắn bó mật thiết với đời sống văn hóa, tinh thần của người dân, đặc biệt ở vùng đồng bằng Bắc Bộ. Không chỉ mang giá trị giải trí, chèo còn phản ánh sinh động cuộc sống, tâm tư, tình cảm và quan niệm đạo đức của nhân dân. Để hiểu rõ giá trị của loại hình nghệ thuật này, cần tìm hiểu từ nguồn gốc, đặc trưng tổng hợp, tích trò đến hệ thống nhân vật, lời thoại và những giá trị nổi bật mà chèo lưu giữ.

Nghệ thuật chèo là gì?

Nghệ thuật chèo là loại hình kịch hát dân gian của người Việt, phổ biến ở đồng bằng Bắc Bộ và trước đây thường được biểu diễn tại sân đình trong các dịp lễ hội. Nghệ thuật chèo kết hợp kể chuyện, diễn xuất, hát, múa và âm nhạc để thể hiện tích truyện, nhân vật và quan niệm sống của cộng đồng.

Tính chất kịch hát trong chèo

Khác với các loại hình nghệ thuật dân gian khác, chèo là một loại hình sân khấu kịch hát đậm đà tính dân tộc với sự kết hợp của các yếu tố hát, múa, nhạc, kịch vô cùng độc đáo. Hát chèo là lối hát sân khấu, có thể đơn ca, song ca hoặc đồng ca. Giai điệu của các làn điệu hát chèo rất phù hợp với giọng tự nhiên và ngôn ngữ của người Việt. [1]

Không gian diễn xướng

Chèo cổ thường được phân ra các chiêng, trong đó chiêng chèo xứ Đông là một dòng nổi tiếng. Chèo cổ thường kết hợp với sự đổi sách các hình thức diễn xướng gần gũi như hát nói, hát xẩm, hát chèo đò, hát chèo chải, hát dậm. Đặc điểm nghệ thuật chèo bao gồm yếu tố kịch tính, kỹ thuật tự sự, phương pháp biểu hiện tính cách nhân vật, tính chất ước lệ và cách điệu. Ngôn ngữ chèo có những đoạn sử dụng những câu thơ chữ Hán, điển cố, hoặc những câu ca dao với khuôn mẫu lục bát rất tự do, phóng khoáng về câu chữ. [2]

Nghệ thuật Chèo là gì?
Nghệ thuật Chèo là gì?

Một số vở hoặc lớp chèo

Một số vở chèo nổi tiếng của Việt Nam có thể kể đến như “Quan Âm Thị Kính”, “Kim Nham” và “Lưu Bình – Dương Lễ”.

Vở chèo “Quan Âm Thị Kính” nổi bật với hình tượng Thị Kính là người phụ nữ hiền lành nhưng liên tiếp chịu oan khuất, qua đó thể hiện sự cảm thương đối với số phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến.

“Lưu Bình – Dương Lễ” lại đề cao tình bạn, tình nghĩa và sự giúp đỡ giữa con người với nhau qua câu chuyện Dương Lễ âm thầm giúp bạn vượt qua cảnh nghèo khó.

Trong “Kim Nham”, nhân vật Xúy Vân vì khao khát tình yêu và cuộc sống khác đã bỏ chồng theo Trần Phương, cuối cùng rơi vào bi kịch.

Đặc biệt, vở chèo “Xúy Vân giả dại” là một lớp diễn vô cùng nổi tiếng, trong đó trạng thái giả điên giúp nhân vật bộc lộ những giằng xé, đau đớn và khát vọng bên trong.

Qua các ví dụ trên, chèo cho thấy khả năng kết hợp lời hát, lời thoại, động tác và diễn xuất để kể chuyện, khắc họa nhân vật và phản ánh những vấn đề của đời sống hằng ngày của con người.

Nguồn gốc và quá trình phát triển của nghệ thuật chèo

Nghệ thuật chèo hình thành từ đời sống văn hóa dân gian vùng đồng bằng Bắc Bộ và phát triển qua nhiều giai đoạn lịch sử, từ diễn xướng sân đình đến hoạt động biểu diễn chuyên nghiệp.

Nguồn gốc của nghệ thuật chèo

Từ thời kỳ của văn minh sông Hồng, vùng đất châu thổ nơi đây đã là cái nôi văn hóa và là nơi sinh sống của người Việt. Nền văn minh lúa nước với các đơn vị hình chính là làng xã đã tạo ra một cộng đồng văn hóa - kinh tế bền chặt. Một số tài liệu cho rằng khi mùa màng đã hoàn tất, vụ mùa bội thu, những người dân lại tổ chức các lễ hội để vui chơi, tạ ơn thần thánh đã trợ sức cho họ có cuộc sống no đủ. Trong những hoạt động cộng đồng ấy, các hình thức diễn xướng đầu tiên đã ra đời và diễn trên sân đình của làng, đó cũng là tiền thân của nghệ thuật chèo sau này.

Kinh đô Hoa Lư (Ninh Bình) hồi thế kỷ X được coi là vùng đất tổ của nghệ thuật chèo. Theo một số tài liệu, người sáng lập và được coi là bà tổ của chèo là bà Phạm Thị Trân, một vũ ca tài hoa trong cung đình nhà Đinh. Từ đây, nghệ thuật chèo được phát triển rộng rãi ở khu vực phía Bắc và một phần của miền Trung. Vào thế kỷ thứ XI, dưới thời nhà Lý (1010-1225), chèo đã vượt qua phạm vi trong dân gian mà phổ biến sâu rộng vào cả kinh thành Thăng Long. [3]

Nguồn gốc của nghệ thuật Chèo
Nguồn gốc của nghệ thuật Chèo

Quá trình phát triển của chèo

Nghệ thuật chèo tiếp tục tồn tại và phát triển lâu dài cho đến tận thế kỷ XVIII - thế kỷ của loạn lạc và khởi nghĩa nông dân. Lúc này, chèo truyền thống có sự chuyển biến căn bản về nội dung. Sân khấu chèo phản ánh mâu thuẫn gay gắt của xã hội (nông dân với địa chủ phong kiến). Chèo trở thành một vũ khí tinh thần để đấu tranh chống lại giai cấp thống trị.

Đầu thế kỷ XX đánh dấu một bước phát triển mới của nghệ thuật chèo. Phong trào chèo văn minh và chèo cải lương đã khiến chèo tiến một bước dài thêm. Lúc này, chèo đả kích những yếu tố mê tín dị đoan. Hình ảnh thổ công, thổ địa, hay sơn thần được đưa lên sân khấu nhập vai. Các tác phẩm chèo được sáng tác và đưa vào diễn xướng theo hướng xây dựng những lớp hài tính cách, phù hợp với điều kiện xã hội, sở thích của khán giả.

Sau những thế kỷ dài với nhiều thăng trầm của lịch sử và biến thiên của thời đại, nghệ thuật chèo vẫn tồn tại. Khi Pháp chiếm thành Hà Nội, đã sai Đội Nghỉ chiêu mộ các nghệ sĩ để lập phường hát ở Chợ Hôm nhằm hỗ trợ và củng cố tinh thần cho binh lính Pháp. Địa điểm diễn ở đây không phải sân đình như trong các làng xã mà là một nơi có mái che, có tường bao quanh và có cả sàn diễn. Trước xu hướng có nhiều người đam mê xem hát chèo, các gánh chèo cũng nhờ đó mà được thành lập. Ngoài chốn kinh kỳ, hầu khắp các tỉnh thuộc đồng bằng châu thổ sông Hồng đều có vài ba phường chèo, có tỉnh có đến năm bảy phường hoạt động theo mùa vụ cấy cày với hình thức trình diễn và tổ trước không khác các thế kỷ trước là bao. Chèo văn minh ra đời là bước chuyển hóa quá độ từ phương thức làm ăn phường hội (các nghệ sĩ diễn theo mùa vụ của các lễ hội, sân khấu ngoài trời có ba mặt) sang bước đầu theo hướng tư bản chủ nghĩa (các nghệ sĩ chèo làm thuê cho ông chủ, ăn lương và diễn xuất quanh năm trên các sân khấu hình hộp).

Sau Cách mạng tháng Tám (1945), các nghệ sĩ cải lương cũng như con cháu của họ và nhiều gánh chèo đã tham gia tích cực và trở thành lực lượng nòng cốt cho các đoàn cải lương chuyên nghiệp như: Đoàn Cải lương Hoa Mai ở Hà Tây, Đoàn Cải lương Phương Đông ở Hải Phòng, Đoàn Cải lương Bình Minh ở tỉnh Nam Hà (tỉnh Nam Định và Hà Nam cũ) và trong các đoàn cải lương của Trung ương và cả các địa phương. [4]

Nhà hát Chèo Việt Nam được hình thành trong cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Việt Nam năm 1951. Tiền thân là Tổ Chèo trong Đoàn Văn công Nhân dân Trung ương, Nhà hát đã tập hợp được các nghệ sĩ ưu tú trong một chương trình khai thác và học tập vốn cổ trong nghệ thuật chèo. Nơi đây còn là trung tâm biểu diễn, nghiên cứu và đào tạo nghệ thuật chèo thuộc Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch.

Trong quá trình hoạt động, các thế hệ nghệ sĩ Nhà hát Chèo Việt Nam còn phục hồi, chỉnh lý, cải biên thành công nhiều vở chèo truyền thống như: “Quan Âm Thị Kính”, “Lưu Bình Dương Lễ”, “Xúy Vân”, “Từ Thức”, “Trương Viên”,…. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc Việt Nam (1954 - 1975), mặc dù chiến tranh ác liệt, đất nước bị chia cắt, song chính yêu cầu của lịch sử, chính mưa bom, bão đạn lại thúc đẩy chèo tiếp tục tồn tại và có chỗ đứng sâu rộng trong đời sống văn hóa của các tầng lớp nhân dân. 7 nhà hát chèo, 8 đoàn chèo với tiền thân là các tổ Văn công trong thời kỳ kháng chiến từ năm 1954 đến năm 1963 đã từng bước phát triển và trở thành các nhà hát chèo, đoàn chèo. Như vậy, từ những hình thức diễn xướng đơn giản trong dân gian như không gian làng xã, sân đình, chèo đã từng bước phát triển thành các gánh chèo, đoàn chèo và nhà hát chuyên nghiệp, đồng thời vẫn bảo lưu được rất nhiều giá trị nghệ thuật truyền thống. [5]

Những đặc trưng của nghệ thuật chèo cổ

Chèo cổ có những đặc trưng nổi bật về tính tổng hợp, tính tự sự, tính ước lệ và cách điệu, khả năng ứng tác, cùng sự kết hợp giữa chất trữ tình và tiếng cười trào phúng.

Tính tổng hợp

Theo Khoa Văn học - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐHQG TP. HCM), chèo là loại hình nghệ thuật có tính tổng hợp cao bởi nó tổng hợp các yếu tố dân ca, dân vũ và các loại hình nghệ thuật dân gian khác ở vùng đồng bằng Bắc Bộ . Trong bất kỳ một vở chèo hay tích truyện thì phần lời thoại, mạch nội dung trong khi hát, múa, diễn xuất cùng âm nhạc sẽ góp phần thể hiện tính cách, tâm trạng và hành động của các nhân vật. Vì vậy, khi muốn cảm nhận đầy đủ một vở chèo thì cần đặt nó trong một tổng thể sân khấu hoàn chỉnh. [6]

Tính tự sự

Khác với các kiểu sân khấu khác khi chủ yếu xây dựng xung đột bằng hành động kịch, chèo có một đặc điểm nổi bật chính là mang đậm tính tự sự khi kể chuyện bằng sân khấu. Nội dung chính của câu chuyện ấy sẽ được dẫn dắt thông qua các lời thoại, lời bài hát và hành động trực tiếp của diễn viên trên sân khấu, làm cho người xem vừa có thể theo dõi hành động của nhân vật, vừa có thể tiếp nhận câu chuyện ấy qua lời kể, lời bài hát và cách biểu đạt của người diễn.

Tính ước lệ và cách điệu

Tiếp theo, chèo cổ nổi bật với tính ước lệ và cách điệu. Chịu ảnh hưởng của kịch nói phương Tây với mục đích tả thực, hầu hết các vở diễn đề tài hiện đại ở các đơn vị chèo chuyên nghiệp đều giảm bớt, thậm chí bỏ hẳn các động tác ước lệ. Chỉ vận dụng một số động tác tương đồng với động tác vô thực vật của kịch nói. Những động tác này cũng rất ít, đôi khi bật ra khỏi phong cách chung của động tác tả thực trong toàn vở.

Một số vở về đề tài chiến tranh, nghệ sĩ sử dụng các động tác ước lệ khi diễn tả những trận đánh, nhưng nhiều khi được cách điệu hóa thành các động tác múa. Giảm bớt hoặc bỏ hẳn các động tác ước lệ là xu thế khó cưỡng khi vở diễn được dàn dựng theo tư duy tả thực của các đạo diễn kịch nói hoặc các đạo diễn từ diễn viên chèo đã học đạo diễn kịch về dựng chèo. Tư duy tả thực chi phối, định hướng sáng tạo về việc viết kịch bản chèo và nghệ thuật biểu diễn của các diễn viên. Thủ pháp biểu diễn ước lệ chỉ có thể vận dụng thành công khi kịch bản viết theo nguyên tắc tự sự, ước lệ, đạo diễn dàn dựng vở theo nguyên tắc ước lệ. Nhiều vở diễn trở nên kệch cỡm khi đang diễn tả thực, nhân vật lại múa trang trí khi cất lên câu hát. Muốn áp dụng thủ pháp ước lệ trong diễn xuất, không còn cách nào khác, vở diễn phải trở lại với phương pháp nghệ thuật tả ý, tả thần và nguyên tắc ước lệ của chèo truyền thống.

Ví dụ như vở chèo “Đường về trận địa” của Đoàn Văn công Quân khu Ba được hoan nghênh nhiệt liệt vì đã vận dụng, thực hiện tổng thể ngôn ngữ theo các nguyên tắc cơ bản của chèo truyền thống. Kịch bản được viết theo nguyên tắc tự sự, ước lệ. Vở diễn dàn dựng trên một sàn diễn trống trơn, không gian, thời gian đều được diễn kể bằng lời thoại và các động tác ước lệ của diễn viên. Nhân vật anh bộ đội, chị dân quân vừa là một điển hình hóa, vừa là một mô hình nhân vật mới mang nhiều tính chung. Tất cả đã tạo nên sự nhuần nhuyễn của chất chèo. Những biến đổi trong việc sử dụng thủ pháp ước lệ ở các vở đề tài hiện đại vẫn còn là một vấn đề chưa có sự thống nhất cao trong các nhà hát, đoàn chèo chuyên nghiệp. Đòi hỏi phải tiếp tục nghiên cứu, thử nghiệm một cách nghiêm túc, công phu, không chỉ dựa vào sự tùy hứng, chủ quan của một số đạo diễn và diễn viên. [7]

Những đặc trưng của nghệ thuật chèo cổ
Những đặc trưng của nghệ thuật chèo cổ

Khả năng ứng tác

Điểm tạo nên sự linh hoạt và sức sống của sân khấu chèo dân gian đó là chèo cổ có khả năng ứng tác và phát huy tính sáng tạo của người diễn. Chèo có thể được biểu diễn ngẫu hứng, nghệ sĩ không nhất thiết phải tuân thủ một cấu trúc sân khấu cố định như kiểu kịch phương Tây. Độ dài của một vở diễn có thể được điều chỉnh tùy theo cảm hứng của người nghệ sĩ hoặc yêu cầu của khán giả.

Đặc biệt, nghệ sĩ chèo có thể ứng biến linh hoạt để phù hợp với cảm xúc và tình huống biểu diễn. Nhờ đó, cùng một tích chèo nhưng cách thể hiện có thể có những thay đổi nhất định trong từng lần diễn, tạo nên sự tương tác trực tiếp giữa nghệ sĩ, nhân vật và khán giả.

Chất trữ tình và trào phúng

Cuối cùng, thể loại chèo kết hợp rất hài hòa giữa chất trữ tình và tính trào phúng. Chất trữ tình là một đặc điểm nổi bật của chèo, nó được thể hiện qua việc diễn tả những cảm xúc và tình cảm của con người như tình yêu, tình bạn, tình thương và sự cảm thông. Các giai điệu, lời hát giúp nhân vật bộc lộ hết những tâm trạng mà lời nói thông thường khó diễn đạt hết.

Bên cạnh đó, chèo còn có tính hài hước và trào phúng sâu sắc, đặc biệt thông qua hình tượng nhân vật hề. Hề chèo thường được trao một không gian biểu đạt khá tự do để chế nhạo những thói hư tật xấu trong xã hội, thậm chí có thể đả kích những người có quyền lực trong xã hội. Vì thế, tiếng cười trong chèo không chỉ nhằm tạo không khí vui vẻ mà còn có chức năng phê phán, giúp người xem nhận ra những điều đáng cười, đáng trách trong đời sống xã hội. Sự kết hợp giữa tiếng cười trào phúng và cảm xúc trữ tình tạo nên sắc thái vừa gần gũi, vừa sâu sắc của nghệ thuật chèo.

Tích trò và cấu trúc của một vở chèo

Trong nghệ thuật chèo, “tích” và “trò” có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau. “Tích” chính là cơ sở để xây dựng nội dung và phát triển hoạt động sân khấu, còn “trò” là sự thể hiện “tích” thông qua hình thức biểu diễn. Theo bài viết trên tạp chí Nghiên cứu Sân khấu – Điện ảnh: “Có tích mới dịch nên trò”, có thể thấy rằng “tích” là cơ sở để người diễn viên sáng tạo nên trò diễn, hay nói cách khác, còn “trò” là mục đích mà diễn viên chèo truyền thống muốn thể hiện, muốn cống hiến tới khán giả của họ. [8]

Như vậy, tích trước hết là câu chuyện, cốt truyện được sử dụng làm chất liệu cho chèo. Tích có thể bắt nguồn từ những câu chuyện quen thuộc trong dân gian, truyện Nôm hoặc những câu chuyện đã được lưu truyền rộng rãi. Tuy nhiên, tích không phải là toàn bộ giá trị của một vở chèo. Khi đưa tích lên sân khấu, diễn viên phải biến câu chuyện đó thành những trò diễn cụ thể, thông qua lời nói, lời bài hát, múa, động tác, âm nhạc, diễn xuất và khả năng ứng biến. Chính quá trình chuyển từ tích sang trò làm cho câu chuyện vốn có trở thành một hình thức nghệ thuật sân khấu sinh động.

Về cấu trúc, chèo truyền thống thường không tổ chức hoàn toàn theo kiểu chia thành các hồi, màn và cảnh cố định như kịch nói hiện đại. Thay vào đó, vở chèo được phát triển qua các lớp diễn, mảnh trò gắn với từng nhân vật, tình huống hoặc sự kiện trong tích. Các mảnh trò được nối kết với nhau để câu chuyện từng bước phát triển, tạo ra xung đột, những tình huống đáng chú ý và hướng tới sự giải quyết của cốt truyện. Vì vậy, cấu trúc của chèo vừa có sự liên kết với tích truyện, vừa tạo khoảng trống cho nghệ sĩ sáng tạo và ứng diễn.

Có thể lấy vở chèo “Quan Âm Thị Kính” làm ví dụ. Từ tích truyện về cuộc đời Thị Kính, vở chèo được phát triển thành nhiều lớp trò nổi tiếng như Thị Kính cắt râu cho chồng, Thị Mầu lên chùa, Mẹ Đốp - Xã trưởng. Mỗi lớp diễn vừa góp phần thúc đẩy câu chuyện, vừa tạo điều kiện để nhân vật được khắc họa thông qua hát, nói, múa và diễn xuất. Qua đó, có thể thấy tích là điểm tựa của nội dung, còn trò là quá trình hiện thực hóa tích trên sân khấu.

Nhân vật, lời thoại, hát chèo và tiếng đế

Nhân vật chèo thường được xây dựng theo kiểu loại; lời thoại, lời hát và tiếng đế cùng tham gia kể chuyện, khắc họa tính cách và tạo sự giao tiếp trực tiếp giữa sân khấu với khán giả.

Nhân vật chèo

Chèo không chỉ là một loại hình nghệ thuật sân khấu truyền thống mà còn là tấm gương phản chiếu đời sống xã hội Việt Nam qua từng thời kỳ. Các nhân vật trong chèo được xây dựng theo lối điển hình hóa, mang những đặc trưng rõ nét của từng tầng lớp trong xã hội, từ người nông dân hiền lành đến quan lại tham lam, từ những cô thôn nữ trong sáng đến những bà mẹ chồng cay nghiệt.

Trong chèo có 4 nhóm nhân vật bao gồm: nhóm nhân vật chính diện, nhóm nhân vật phản diện, nhóm nhân vật hề và nhóm nhân vật mang màu sắc kỳ ảo.

Đầu tiên là nhóm nhân vật chính diện, nữ chính (đào chính) sẽ đại diện cho hình mẫu người phụ nữ truyền thống, dịu dàng, thủy chung, giàu lòng vị tha nhưng lại chịu nhiều oan trái. Điển hình là Thị Kính (“Quan Âm Thị Kính”) một người vợ hiền lành nhưng bị vu oan hãm hại. Tiếp theo là nam chính (kép chính) là những chàng trai tài hoa, chính trực, yêu cái thiện và luôn đấu tranh vì lẽ phải. Trong chèo, họ thường là nho sinh, tướng quân hoặc những người tài giỏi nhưng gặp nhiều trắc trở trong cuộc đời, như Thiện Sĩ trong “Quan Âm Thị Kính”.

Thứ hai là nhóm nhân vật phản diện, nhân vật phản diện nữ (đào lệch) mang tính cách đanh đá, mưu mô, ví dụ như Sùng Bà trong “Quan Âm Thị Kính” là một điển hình khi bà luôn nghi ngờ, hà khắc và đối xử bất công với con dâu. Còn nhân vật nam phản diện (kép lệch) sẽ đại diện cho tầng lớp cường hào, quan lại tham lam, gian xảo, ví dụ như Lý Trưởng là một nhân vật như vậy, lợi dụng chức quyền để áp bức dân lành nhưng cuối cùng cũng phải nhận quả báo.

Tiếp đó là nhóm nhân vật hề, hề trong chèo không chỉ mang lại tiếng cười giải trí mà còn là những nhân vật phản biện xã hội sâu sắc, đó là nhân vật dân dã, khôn ngoan, thường đại diện cho tầng lớp nhân dân lao động, sử dụng trí khôn để đối phó với bọn quan lại. Ví dụ như mẹ Đốp, một bà lão vừa hóm hỉnh vừa sâu cay, chuyên dùng lời lẽ sắc bén để “chặt chém” quan lại, tiêu biểu trong các vở như “Quan Âm Thị Kính”.

Cuối cùng là những nhân vật mang màu sắc kỳ ảo, ngoài những nhân vật đời thường, chèo còn có những nhân vật mang màu sắc huyền thoại, thần thoại như Tiên, Phật, Thần… đóng vai trò dẫn dắt hoặc thử thách con người trong hành trình của họ. Những yếu tố này đã góp phần làm tăng tính hấp dẫn và chiều sâu triết lý của chèo. Có thể thấy hệ thống nhân vật trong chèo là bức tranh phản ánh rõ nét xã hội Việt Nam từ xưa đến nay. Những nhân vật ấy đã góp phần làm nên sức sống lâu bền của chèo trong lòng khán giả, khiến loại hình nghệ thuật này luôn có một chỗ đứng vững chắc trong nền văn hóa dân tộc. [9]

Lời thoại và tiếng đế trong chèo

Lời thoại trong chèo khá linh hoạt. Trong chèo không có lời của người kể chuyện, chỉ có các lời thoại. Lời thoại sẽ đảm nhiệm mọi vai trò như dẫn dắt xung đột, diễn tả hành động, khắc họa nhân vật, bối cảnh, đồng thời gián tiếp thể hiện tình cảm của tác giả dân gian. Lời thoại trong chèo cổ bao gồm lời thoại của nhân vật và tiếng đế. Lời thoại của nhân vật thường có các hình thức đối thoại (lời các nhân vật nói với nhau), độc thoại (lời nhân vật nói với chính mình), bàng thoại (lời nhân vật nói với khán giả). Tiếng đế là lời của đại diện khán giả chen vào, đệm vào lời của nhân vật dưới dạng câu hỏi hoặc bình luận ngắn, chủ yếu để kích thích nhân vật bộc lộ khi diễn.

Về hình thức thì lời nhân vật có thể là lời nói thường, hát nói hoặc lời hát theo các làn điệu. Nhờ đó, lời thoại không chỉ giúp dẫn dắt tình huống, xây dựng xung đột mà còn góp phần bộc lộ trực tiếp tâm trạng và tính cách nhân vật. Tiếng đế là một trong những nét độc đáo của nghệ thuật chèo. Nó là tiếng nói của khán giả xem chèo đáp lại lời của nhân vật, từ đó tạo nên sự đối thoại trực tiếp giữa khán giả và diễn viên. Tiếng đế không chỉ thể hiện thái độ của người xem mà còn giúp nhân vật bộc lộ tính cách, đồng thời khán giả cũng sẽ trở thành một phần của vở diễn chèo. Đây là một nét đặc sắc cho thấy sân khấu nghệ thuật chèo truyền thống không tách biệt hoàn toàn giữa diễn viên và khán giả. [10]

Như vậy, hát chèo giữ một vị trí quan trọng trong việc tạo nên chất trữ tình của sân khấu. Lời hát giúp nhân vật bộc lộ những cảm xúc khó diễn đạt bằng lời nói thông thường, âm nhạc cũng như các làn điệu chèo góp phần dẫn dắt cảm xúc, tạo không khí và điều tiết nhịp điệu của từng lớp diễn, làm cho câu chuyện trở nên sinh động hơn.

Giá trị của nghệ thuật chèo Việt Nam

Về giá trị nhận thức, chèo là loại hình nghệ thuật cổ truyền của dân tộc có sức sống lâu bền, độc đáo và phổ biến hiện nay. Nghệ thuật chèo đã đi sâu vào đời sống tinh thần của nhân dân, phản ánh đầy đủ mọi góc độ bản sắc dân tộc Việt Nam. Đó là tinh thần lạc quan, nhân ái, yêu cuộc sống yên lành, bình dị. Nó luôn phản ánh chất trữ tình, thể hiện những cảm xúc, tình cảm của con người, tình yêu, tình bạn và tình thương trong cuộc sống.

Về giá trị giáo dục, với những đặc sắc riêng có trong nghệ thuật và tiềm ẩn nhiều giá trị thẩm mỹ, nhân văn, chèo không chỉ là món ăn tinh thần trong lúc thư nhàn của người dân quê chất phác, mà còn đi vào đời sống với những bài học sâu sắc về đạo lý, nhân sinh. Theo TS Nguyễn Thị Thanh Phương (Viện Sân khấu - Điện ảnh, Trường Đại học Sân khấu - Điện ảnh Hà Nội): “Nếu chèo cổ chỉ dừng lại ở việc diễn kể những câu chuyện trong dân gian, gắn với khung cảnh sinh hoạt văn hóa làng xã, với mục đích phê phán, giáo huấn đạo đức thì chèo đương đại đã cập nhật hiện thực cuộc sống[11] . Như vậy, chèo không chỉ mang trong mình giá trị giải trí mà còn ẩn sâu trong đó là những giá trị giáo dục sâu sắc, góp phần bồi dưỡng phẩm chất, định hướng cách ứng xử và nâng cao ý thức của con người trong cuộc sống thường ngày.

Về giá trị thẩm mỹ, nghệ thuật chèo nổi bật bởi tính tổng hợp của nhiều loại hình nghệ thuật khác nhau. Chèo hội tụ các yếu tố như ca, múa, nhạc, diễn xuất và mỹ thuật, tạo nên một hình thức sân khấu giàu tính biểu cảm. Các làn điệu chèo vừa mềm mại, trữ tình, vừa có khả năng thể hiện những sắc thái cảm xúc đa dạng của con người. Bên cạnh đó, chèo còn sử dụng tiếng cười và yếu tố hài hước để phản ánh, phê phán những thói hư tật xấu trong đời sống. Sự kết hợp giữa chất trữ tình, tính dân gian và tiếng cười trào phúng tạo nên vẻ đẹp riêng, giúp chèo vừa gần gũi với đời sống nhân dân vừa có sức hấp dẫn nghệ thuật.

Về giá trị cộng đồng, chèo có mối quan hệ chặt chẽ với đời sống cộng đồng của cư dân đồng bằng Bắc Bộ. Trong không gian văn hóa làng xã, chèo thường được biểu diễn tại sân đình và trong các dịp lễ hội, trở thành một hoạt động văn hóa gắn kết người dân. Không gian biểu diễn này tạo ra sự tương tác trực tiếp giữa người diễn và người xem, khiến chèo không chỉ là hoạt động thưởng thức nghệ thuật mà còn là một hình thức sinh hoạt cộng đồng. Qua những câu chuyện, làn điệu và nhân vật trên sân khấu, người dân cùng chia sẻ những quan niệm về đạo lý, cách ứng xử và đời sống. Vì vậy, chèo góp phần duy trì sự gắn bó cộng đồng và đáp ứng nhu cầu đời sống tinh thần của người dân.

Về giá trị văn hóa, nghệ thuật chèo là một biểu hiện tiêu biểu của bản sắc văn hóa vùng đồng bằng Bắc Bộ và văn hóa Việt Nam. Chèo lưu giữ nhiều yếu tố của văn hóa dân gian như làn điệu, âm nhạc, ngôn ngữ, cách diễn xướng và những câu chuyện phản ánh tâm tư, tình cảm, quan niệm sống của người Việt. Không chỉ mang giá trị giải trí, chèo còn lưu giữ ký ức của cộng đồng và đặc biệt là của cư dân vùng đồng bằng châu thổ Bắc Bộ. Trong đời sống hiện đại ngày nay, việc bảo tồn và phát huy chèo cần gắn với truyền dạy, biểu diễn và đưa nghệ thuật truyền thống đến gần hơn với công chúng đương đại. Đây chính là cơ sở để chèo tiếp tục được các thế hệ sau kế thừa và phát huy.

Kết luận

Nghệ thuật chèo là loại hình kịch hát dân gian đã gắn bó sâu sắc với vùng đồng bằng Bắc Bộ và đời sống cộng đồng. Trong chèo, nếu tích trò tạo nên cốt truyện thì nhân vật lại thể hiện tính cách, số phận và lời thoại sẽ góp phần kể chuyện, bộc lộ tâm tư, tình cảm. Âm nhạc sẽ làm tăng tính biểu diễn còn tiếng đế tạo ra sự tương tác và kết nối với khán gi. Qua đó, nghệ thuật chèo thể hiện những giá trị nghệ thuật, văn hóa và nhân văn tiêu biểu.

Bạn đọc quan tâm đến các bài viết về nghệ thuật, văn hóa dân gian Việt Nam, có thể xem thêm các chủ đề tương tự về kịch, tuồng, thơ nôm,… trong chuyên mục Ngữ Văn của ZIM Academy.

Nguồn tham khảo

Đánh giá

(0)

Gửi đánh giá

0

Bình luận - Hỏi đáp

Bạn cần để có thể bình luận và đánh giá.
Đang tải bình luận...