Phong cách hiện thực là gì? Nguồn gốc, cách phân biệt và đặc điểm cơ bản
Key takeaways
Phong cách hiện thực (1930 - 1945) lấy “sự thực ở đời” làm tôn chỉ, phản ánh khách quan xã hội qua cảm hứng phê phán sắc sảo. Trọng tâm là phản ánh số phận con người bị chi phối bởi môi trường.
Trong chương trình Ngữ văn lớp 12, phong cách hiện thực đóng vai trò là một trong những tri thức văn học nền tảng không thể thiếu khi tiếp cận các tác phẩm truyện và tiểu thuyết tiêu biểu giai đoạn 1930-1945. Đây là phương thức sáng tác dựa trên nguyên tắc phản ánh khách quan đời sống, tái hiện thực tại xã hội một cách trung thực và toàn diện qua những bức tranh chân thực về môi trường sống "như nó vốn có".
Việc nắm vững phong cách này là "chìa khóa" giúp học sinh giải mã thế giới nghệ thuật của các cây bút bậc thầy như Vũ Trọng Phụng hay Nam Cao, những người đã dũng cảm mổ xẻ và phanh phui thực trạng xã hội đương thời. Bài viết sau đây sẽ trình bày chi tiết về khái niệm, các đặc điểm mĩ học cốt lõi và những thành tựu nổi bật của trào lưu hiện thực trong văn học Việt Nam để định hướng cho người đọc cái nhìn hệ thống nhất.
Phong cách hiện thực là gì?
Từ điển thuật ngữ văn học (Trần Đình Sử) nhận định[1] :
Theo nghĩa rộng, thuật ngữ chủ nghĩa hiện thực được dùng để xác định quan hệ giữa tác phẩm văn học đối với hiện thực, bất kể tác phẩm văn học đối với hiện thực, bất kể tác phẩm đó là của nhà văn thuộc trường phái hoặc khuynh hướng văn nghệ nào.
Hiểu đơn giản, bất kỳ tác phẩm nào lấy chất liệu từ thực tế, phản ánh những gì đang diễn ra trong thế giới khách quan thì đều mang tính hiện thực. Khi nói đến tính hiện thực hay chủ nghĩa hiện thực trong văn học cổ, người ta thường nhấn mạnh mối quan hệ gắn bó giữa tác phẩm với đời sống, khẳng định khả năng phản ánh chân thực của tác giả và nền văn học đó. Tuy nhiên, cách hiểu và sử dụng khái niệm chủ nghĩa hiện thực như vậy không còn phổ biến bởi nó chưa đủ khả năng làm rõ những đặc trưng thẩm mỹ và phương thức phản ánh hiện thực riêng của từng giai đoạn, trào lưu hay khuynh hướng sáng tác.
Theo nghĩa hẹp, khái niệm chủ nghĩa hiện thực được dùng để chỉ một phương pháp nghệ thuật hay một khuynh hướng, một trào lưu văn học có nội dung chặt chẽ, xác định trên cơ sở các nguyên tắc mĩ học riêng.
Trong cuốn Lý luận văn học[2]:
Chủ nghĩa hiện thực có khi được dùng không phải với nghĩa một phương pháp sáng tác mà với nghĩa kiểu sáng tác tái hiện.
Hay theo Bách khoa toàn thư:
Chủ nghĩa hiện thực là một trào lưu văn học nghệ thuật, là phương pháp sáng tác lấy hiện thực xã hội và những vấn đề có thật của con người làm đối tượng phản ánh.
Qua những khái niệm của các công trình nghiên cứu trên, có thể thấy rằng phong cách hiện thực là sự thể hiện, vận dụng hoặc phương pháp sáng tác của chủ nghĩa hiện thực trong thực tế. Phong cách hiện thực là phương pháp sáng tác nghệ thuật lấy sự khách quan làm nền tảng, sử dụng thủ pháp điển hình hóa để tái hiện cuộc sống một cách trung thực và chính xác. Là phong cách dùng văn học thành tấm gương phản chiếu hiện thực thông qua lăng kính phân tích sắc sảo của người nghệ sĩ.
Nguồn gốc phong cách hiện thực
Thời điểm ra đời của chủ nghĩa hiện thực đến nay vẫn có những ý kiến khác nhau. Theo Từ điển thuật ngữ văn học[1]:
Một số người cho rằng những nguyên tắc phản ánh hiện thực chủ nghĩa hình thành từ cổ đại và trải qua các giai đoạn phát triển lịch sử như Cổ đại, Phục hưng, Ánh sáng, thế kỉ XIX,…
Một số khác thì cho là từ thời Phục Hưng, một số khác nữa thì cho là từ thế kỉ XVIII khi tiểu thuyết sinh hoạt gia đình và sinh hoạt xã hội ra đời.
Nhiều người thì lại cho rằng chủ nghĩa hiện thực hình thành vào những năm 30 của thế kỉ XIX.
Theo Bách khoa toàn thư, những tác phẩm mang tính hiện thực đã xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử văn học, trước khi chủ nghĩa hiện thực được xác lập như một trào lưu và là một phương pháp sáng tác độc lập. Phải đến thế kỷ XIX, chủ nghĩa hiện thực mới phát triển và hoàn thiện như một khuynh hướng văn học lớn ở các nước Anh, Pháp, Ý hay Nga, sau đó lan tỏa rộng rãi sang nhiều nền văn học khác trên thế giới. Bên cạnh đó, bài tiểu luận đầu tiên có tính chất lí luận về chủ nghĩa hiện thực được viết bởi nhà lí luận Pháp Săngflory (Champfleury) vào năm 1857.
Dù còn tranh cãi về thời điểm, nhưng tựu chung, hầu hết các ý kiến cho rằng đến những năm 40 của thế kỷ XIX trở đi, chủ nghĩa hiện thực trong văn học bước sang một giai đoạn phát triển hoàn chỉnh, rực rỡ cả về lí luận thực tiễn lẫn sáng tác. Từ đây, chủ nghĩa hiện thực còn mang tên là chủ nghĩa hiện thực phê phán.
Tại Việt Nam, những mầm mống đầu tiên đã xuất hiện trong văn học trung đại qua các tác phẩm phơi bày hiện thực khách quan như Truyện Kiều, thơ Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến. Kế đến là các tác giả như Hồ Biểu Chánh, Phạm Duy Tốn đã đặt những viên gạch đầu tiên khơi dòng cho khuynh hướng này. Bối cảnh xã hội là nguồn gốc trực tiếp thúc đẩy sự ra đời của trào lưu, cuộc khủng hoảng kinh tế (1929 - 1933) và chính sách bóc lột của thực dân Pháp đã đẩy nhân dân vào cảnh khốn cùng và bần cùng hoá cùng với sự thất bại của các phong trào chính trị khiến nhiều trí thức tiểu tư sản tìm con đường phản kháng xã hội thông qua văn chương. Khoảng những năm 1930, Nguyễn Công Hoan bắt đầu đi theo khuynh hướng tả chân. Từ những năm 1930 đến trước năm 1945 là thời kì khuynh hướng văn học hiện thực phê phán phát triển mạnh mẽ về quy mô và đạt được những thành tựu với các tên tuổi lớn như Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao,…
Dù những yếu tố hiện thực trong văn học đã xuất hiện từ lâu, nhưng phải đến thế kỷ XIX (trên thế giới) và giai đoạn 1930 - 1945 (tại Việt Nam) trở thành những cột mốc quan trọng khi chủ nghĩa hiện thực trở thành một trào lưu văn học hoàn chỉnh và có sức ảnh hưởng sâu rộng.
Phân biệt phong cách hiện thực phê phán với hiện thực xã hội chủ nghĩa
Tiêu chí | Phong cách hiện thực phê phán | Phong cách hiện thực xã hội chủ nghĩa |
|---|---|---|
Quan điểm nghệ thuật | Coi trọng việc phản ánh hiện thực với mục đích phân tích, mổ xẻ và tố cáo các bất công, thối nát của xã hội đương thời[3]. | Dù có kế thừa từ hiện thực phê phán, phong cách này hướng tới mục tiêu cải tạo xã hội[3]. |
Mục đích phản ánh | Các nhà văn đứng trên lập trường nhân đạo để phơi bày những “tiếng đau khổ thoát ra từ những kiếp lầm than” nhằm phản ánh thái độ bất bình đối với thực tại. | Khẳng định chế độ mới, cổ vũ đấu tranh cách mạng, giáo dục tư tưởng, xây dựng lý tưởng xã hội chủ nghĩa. |
Cách nhìn nhận và giải quyết mâu thuẫn | Khắc sâu những mâu thuẫn giai cấp, sự đối kháng và những bế tắc của con người trong hoàn cảnh xã hội ngột ngạt. Nhân vật thường có kết cục bi thương và bế tắc. | Khám phá mâu thuẫn theo chiều hướng tích cực, gắn liền với sự phát triển của lịch sử. Tin tưởng và tương lai, nhân vật thường tìm được lối thoát qua cách mạng hay tập thể. |
Hình tượng nhân vật | Chủ yếu là “con người nhỏ bé”, “thấp cổ bé họng”, những nạn nhân của hoàn cảnh (người nông dân nghèo, trí thức nghèo, người lao động bị áp bức,…). | Là “người anh hùng”, chiến sĩ cách mạng hoặc quần chúng lao động giác ngộ lí tưởng, mang tính chất sử thi và phẩm chất tốt đẹp. |
Bối cảnh lịch sử | Giai đoạn xã hội cũ, bất công, chuyển giao hoặc khủng hoảng (Ví dụ: Văn học Việt Nam 1930-1945, Văn học phương Tây thế kỷ XIX). | Giai đoạn đấu tranh giải phóng dân tộc hoặc xây dựng chế độ xã hội mới (Ví dụ: Văn học Việt Nam 1945-1975,…). |
Tác giả tiêu biểu | Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố (Việt Nam) Honoré de Balzac (Pháp), Lev Tolstoy (Nga),… | Tố Hữu, Nguyễn Thi, Anh Đức (Việt Nam) Maxim Gorky (Nga) |
Đặc điểm cơ bản của phong cách hiện thực
Đề tài và cảm hứng
Đề tài tập trung khai thác đời sống hiện thực đời thường, đặc biệt là những mảng sống trần trụi, khốn cùng của các tầng lớp thấp trong xã hội như nông dân và dân nghèo thành thị. Nội dung thường hàm chứa những mâu thuẫn xã hội gay gắt và những vấn đề bức thiết của nhân sinh.
Cảm hứng chủ đạo chính là phê phán, bóc trần những mặt khuất tối, bất công cùng các mối quan hệ thối nát của thực tại xã hội. Bên cạnh đó, phong cách hiện thực nhưng lại thấm đẫm cảm hứng nhân đạo, thể hiện qua sự cảm thông sâu sắc với những số phận bi kịch và khát vọng về một xã hội công bằng, nhân văn hơn.
Nguyên tắc xây dựng nhân vật
Nguyên tắc xây dựng nhân vật tập trung vào việc xây dựng những tính cách điển hình trong hoàn cảnh điển hình. Nhân vật điển hình là những nhân vật tiêu biểu, có những nét cá tính riêng biệt nhưng đồng thời mang nét chung khái quát của một loại người, một tầng lớp, một giai cấp của xã hội. Nhân vật điển hình là sự thống nhất giữa cái riêng và cái chung.
Con người là sản phẩm của môi trường và nhân vật điển hình không nằm ngoài quy phạm đó. Để tạo nên một nhân vật điển hình có tính cách điển hình, hoàn cảnh điển hình chính là yếu tố không thể thiếu. Hoàn cảnh điển hình là hoàn cảnh của các nhân vật được miêu tả trong tác phẩm, vừa có tính chất tiêu biểu và độc đáo, thể hiện những tương quan bản chất của đời sống trong những mối liên hệ phát triển biện chứng của chúng với nhau. Số phận và tâm lý nhân vật thường bị quy định, nhào nặn bởi môi trường sống và các quan hệ xã hội.
Các kiểu nhân vật phổ biến có thể kể đến như kiểu nhân vật lao động bị dồn vào đường cùng nhưng giàu tinh thần phản kháng (chị Dậu, anh Pha,…), kiểu nhân vật tha hóa (Chí Phèo, Nghị Phách,…) và kiểu trí thức tiểu tư sản bi kịch (Thứ, Hộ,…).
Nguyên tắc lịch sử cụ thể
Các nhà văn hiện thực mô tả sự vật, con người gắn liền với một quá trình lịch sử cụ thể, từ bỏ mọi sự trừu tượng hoá hay lý tưởng hoá hiện thực. Điều này đòi hỏi nhà văn phải đặt con người vào một bối cảnh lịch sử - xã hội nhất định. Văn học hiện thực luôn gắn chặt với thực tại khách quan, nghệ thuật khi đó là chính “sự thực ở đời”.
Tác phẩm phải gạn lọc từ hiện thực xô bồ những chi tiết tinh túy nhất để người đọc thấy được quy luật phát triển và mâu thuẫn bản chất của xã hội đương thời[4]. Chẳng hạn, văn học hiện thực Việt Nam giai đoạn 1930 -1945 đã tái hiện chính xác bức tranh bần cùng hoá của nông dân và sự giả dối của phong trào “Âu hoá” tại thành thị.
Không gian trong các tác phẩm hiện thực hầu hết đều mang không gian tù túng, dồn ép con người để làm nổi bật hoàn cảnh điển hình. Thời gian thường là thời gian hiện thực hằng ngày, bị dồn nén để đẩy xung đột lên cao trào và buộc tính cách nhân vật phải bộc lộ[3]. Sự chính xác của các chi tiết cụ thể là điều kiện tiên quyết để tạo nên giá trị lịch sử cụ thể cho tác phẩm, giúp tái hiện cuộc sống trong trạng thái trung thực nhất.
Phương thức trần thuật
Trong văn học hiện thực hay chủ nghĩa hiện thực, hầu hết đều xuất hiện điểm nhìn khách quan, điểm nhìn này giúp người kể chuyện đứng ngoài sự kiện để tái hiện đời sống một cách trung thực. Tuy nhiên, vẫn xuất hiện những cây bút đặc biệt, điểm nhìn có sự dịch chuyển linh hoạt từ bên ngoài vào sâu bên trong tâm hồn nhân vật qua lời nói nửa trực tiếp (Nam Cao,…).
Ngôn ngữ gần gũi với lời ăn tiếng nói đời thường, giàu tính cá thể hóa và sự sinh động của đời sống thực, các nhà văn coi trọng những chi tiết cụ thể (lời ăn tiếng nói) có độ chính xác cao để tạo dựng niềm tin về sự chân thực cho độc giả. Bên cạnh đó, giọng điệu trong văn học hiện thực rất đa dạng, từ mỉa mai, đả kích đến lạnh lùng nhưng thiết tha (Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan,…). Nhịp điệu thường khẩn trương, gấp gáp, đầy căng thẳng để phản ánh áp lực của hiện thực đời sống.
Dấu hiệu nhận biết phong cách hiện thực trong một văn bản
Dấu hiệu về nội dung
Văn bản tập trung khai thác những bức tranh chân thực về cuộc sống hằng ngày và môi trường xã hội. Nội dung thường xoay quanh những mâu thuẫn xã hội gay gắt, đặc biệt là mâu thuẫn giữa các tầng lớp trong xã hội thực dân nửa phong kiến (như giữa nông dân và địa chủ, về sự lố lăng của tầng lớp thị dân “thượng lưu” giả dối,…).
Nhân vật xuất thân bình thường thậm chí có phần thấp kém, không phải là những hình tượng phi thường hay lý tưởng, nhân vật trong văn học hiện thực là những con người bằng xương bằng thịt, thuộc về những giai cấp cụ thể, họ là những người nông dân khốn cùng, người dân nghèo ở thành thị hay trí thức tiểu tư sản.
Bên cạnh đó, tính cách và số phận của nhân vật hầu hết luôn bị quy định bởi môi trường. Ví dụ, nhân vật Hộ trong tác phẩm “Đời thừa” (Nam Cao), vì thương người, Hộ cưu mang vợ con của Từ. Dù luôn tự nhủ phải là một người cha, người chồng mẫu mực, áp lực mưu sinh khiến anh trở nên cáu gắt, nát rượu và nhiều lần hành hạ vợ con, đi ngược lại với những triết lý nhân đạo mà anh luôn tôn thờ[5]. Cái đói, cái nghèo đã ép nhân vật này trở thành con người mà bản thân luôn ghét, bởi lẽ tính cách và số phận đã bị quyết định bởi môi trường.
Dấu hiệu về nghệ thuật
Nghệ thuật chú trọng vào độ chính xác cao và khả năng khái quát bản chất đời sống, tính cách điển hình trong hoàn cảnh điển hình là dấu hiệu nhận biết quan trọng nhất. Nhân vật vừa mang nét cá tính đặc biệt, độc đáo, lại vừa mang tính phổ quát đại diện cho một kiểu người phổ biến trong một tầng lớp, giai cấp.
Phong cách hiện thực trong văn học thường sử dụng ngôn ngữ gần gũi với lời ăn tiếng nói hằng ngày, giàu tính cá thể hóa. Dấu hiệu đặc trưng là sự đan xen giữa các kiểu ngôn ngữ khác nhau: một bên hào nhoáng, sang trọng giả tạo và một bên tầm thường, thô thiển.
Đặc biệt là phương thức trần thuật khách quan, người kể chuyện thường đứng ngoài sự kiện, sử dụng các chi tiết chân thực và tỉ mỉ để tái hiện thực tại “như nó vốn có” mà không lý tưởng hoá. Trong nhiều tác phẩm hiện thực, các thủ pháp như phóng đại, tương phản, nghịch ngữ, tạo tình huống trào phúng được sử dụng như một công cụ đặc lực để tô đậm bản chất lố lăng của hiện thực.
Dấu hiệu về cảm hứng
Cảm hứng sáng tác là lăng kính giúp nhà văn soi chiếu và đánh giá thực tại, tác giả tập trung phơi bày các mặt khuất tối, tiêu cực cùng những bất công của thực tại xã hội nhằm mục đích thức tỉnh hoặc đả kích mạnh mẽ.
Khác với phong cách lãng mạn thường tô đậm cảm xúc trí tưởng tượng, cảm hứng hiện thực không né tránh mặt tối và không “tô hồng nhân vật”, thậm chí nó đẩy nhân vật vào hoàn cảnh éo le, khó khăn cùng cực nhất để bộc lộ cái bản chất của nhân vật. Hiện thực là “những ô cửa nhìn ra cuộc sống”, mang lại giá trị nhận thức về bản chất trần trụi của cuộc đời.
Thay vì bộc lộ trực tiếp, tư tưởng của nhà văn thường ẩn sau các hình tượng nghệ thuật và các sự kiện diễn ra trong cốt truyện. Tuy nhiên đằng sau những bức tranh khốn cùng đó luôn chứa đựng một tinh thần nhân đạo cùng lòng cảm thông sâu sắc với những kiếp sống lầm than.
So sánh phong cách hiện thực và phong cách lãng mạn
Điểm giống nhau
Đều là những phương thức sáng tác quan trọng trong văn học, hướng đến việc phản ánh tâm tư, tình cảm và khát vọng sâu sắc trước cuộc đời con người.
Cả hai đều sử dụng hình tượng nghệ thuật làm phương tiện chủ đạo để biểu đạt tư tưởng, tình cảm của người nghệ sĩ tác động đến người đọc
Sự khác biệt giữa hai phong cách hiện thực và phong cách lãng mạn
Tiêu chí | Phong cách hiện thực | Phong cách lãng mạn |
|---|---|---|
Về đề tài | Tập trung khai thác hiện thực đời thường và bức tranh xã hội một cách trung thực, khách quan; thường xoay quanh những mâu thuẫn xã hội gay gắt. | Thiên về khám phá thế giới nội tâm, đề cao cảm xúc cá nhân, hướng đến những lý tưởng, cái đẹp và sức mạnh của trí tưởng tượng bay bổng. |
Về nhân vật | Xây dựng những tính cách điển hình mang số phận xã hội, nhân vật là sản phẩm của môi trường và bị chi phối bởi hoàn cảnh sống cụ thể | Thường khắc họa những con người lý tưởng hoặc phi thường, có cá tính mạnh mẽ, tràn đầy cảm xúc cá nhân và thường có xu hướng thoát ly thực tại. |
Về nghệ thuật | Ưu tiên phương thức mô tả cảnh quan, chú trọng các chi tiết chính xác, xác thực, ngôn ngữ thường giản dị, gần gũi với lời ăn tiếng nói hằng ngày. | Ưu tiên sức mạnh của sự tưởng tượng, thường sử dụng các thủ pháp nghệ thuật như tương phản, phóng đại và ngôn ngữ giàu hình ảnh, biểu cảm để tô đậm cảm xúc. |
So sánh các phong cách sáng tác
Tiêu chí | Phong cách cổ điển | Phong cách hiện thực | Phong cách lãng mạn |
|---|---|---|---|
Đề tài/ chủ để | Đề cao lý tưởng, đạo đức, con người hoàn mĩ mang tính mẫu mực | Phản ánh hiện thực đời sống xã hội trung thực, khách quan | Đề cao cảm xúc cá nhân, hướng đến cái đẹp và sự tự do |
Nhân vật | Những con người chuẩn mực, đại diện cho lý tưởng cộng đồng | Tính cách điển hình trong hoàn cảnh điển hình, gắn với số phận xã hội. | Con người lý tưởng, phi thường, giàu khát vọng và cảm xúc. |
Nghệ thuật | Ngôn ngữ trau chuốt, giàu hình ảnh, điển tích, quy phạm nghiêm ngặt | Ngôn ngữ giản dị, khách quan, chi tiết chính xác và chân thực | Ngôn ngữ giàu biểu cảm, sử dụng thủ pháp tương phản, phóng đại |
Cảm hứng | Ngợi ca đạo đức, lý tưởng, trật tự xã hội | Phê phán, bóc trần bất công, những mặt khuất tối của xã hội | Khát khao cái tôi cá nhân và khát vọng về những điều tốt đẹp |
Ví dụ | Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm khúc,… | Tắt đèn, Chí Phèo, Vợ chồng A Phủ,… | Đây thôn Vĩ Dạ, Bến Quê, Tây Tiến,… |
Phong cách hiện thực trong văn học Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945
Bối cảnh lịch sử xã hội
Khủng hoảng kinh tế (1929 - 1933): thực dân Pháp tăng cường vơ vét, tăng thuế, bắt phu, bắt lính, gây lạm phát để bù đắp thiệt hại, khiến đời sống nhân dân bị bần cùng hóa. Cùng với thất bại của các phong trào chính trị, sau sự thất bại của cách mạng tư sản (1930), giai cấp tư sản dân tộc mất khả năng chiến đấu, trí thức tiểu tư sản rơi vào hoang mang và một số tìm con đường giải phóng dân tộc hoặc phản kháng thông qua văn chương. Xã hội thực dân nửa phong kiến với các quan hệ rối ren cùng những chính sách bịp bợm đã đẩy người nông dân và dân nghèo thành thị vào cảnh khốn cùng, cũng là chất liệu cho dòng văn học hiện thực.
Các chặng đường phát triển
Văn học hiện thực phê phán Việt Nam vận động qua ba chặng đường chính
Từ 1930 - 1935: Giai đoạn khởi đầu với các sáng tác của Nguyễn Công Hoan (Kép Tư Bền) và Vũ Trọng Phụng (các phóng sự như Cạm bẫy người), bắt đầu thể hiện tinh thần phê phán sự bất công và vô nhân đạo của xã hội.
Từ 1936 đến 1939: Thời kỳ cực thịnh do tình hình xã hội thuận lợi. Các cây bút như Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan đạt độ chín về tài năng với hàng loạt kiệt tác như Tắt đèn, Giông tố, Số đỏ, Bước đường cùng. Họ tập trung tố cáo mãnh liệt chính sách bịp bợm của giai cấp thống trị.
Từ 1940 đến 1945: Giai đoạn phát triển về chiều sâu, tiêu biểu là các sáng tác của Nam Cao. Văn học không chỉ dừng lại ở miêu tả mà đã chuyển sang phân tích, lý giải hiện thực, đi sâu vào thế giới tâm hồn nhân vật.
Những thành tựu nổi bật
Về nội dung
Văn học hiện thực giai đoạn này đã bứt phá khỏi những khuôn mẫu ước lệ để chạm tới “sự thực ở đời”, mang lại giá trị nhận thức và giáo dục sâu sắc. Các nhà văn đã phanh phui bộ mặt xã hội thực dân phong kiến ảm đạm, đầy rẫy tệ nạn. Nội dung của hầu hết các tác phẩm bao quát từ nông thôn đến thành thị, từ sự xơ xác, tiêu điều của làng quê những ngày thuế thúc trống dồn đến sự lố lăng, giả dối của các phong trào “Âu hóa”.
Thành tựu lớn nhất về tư tưởng là việc khẳng định văn chương phải gắn liền với đời sống của quần chúng bị áp bức, tức “nghệ thuật vị nhân sinh”. Các nhà văn thuộc dòng văn hiện thực đã tuyên chiến với lối viết coi “nghệ thuật là ánh trăng lừa dối” để tập trung vào “tiếng đau khổ” của những kiếp lầm than, coi tiểu thuyết là vũ khí để tố cáo xã hội tàn ác.
Văn học hiện thực giai đoạn này còn đi sâu lý giải hiện thực, chỉ ra rằng chính xã hội phi nhân tính đã tàn phá nhân hình và nhân tính của con người. Các tác phẩm ca tụng lòng thương, tình bác ái, khát vọng sống lương thiện ngay cả khi con người bị đẩy vào bước đường cùng hay bị tha hóa.
Về nghệ thuật
Một trong những đặc trưng nổi bật của chủ nghĩa hiện thực là xây dựng nhân vật điển hình, đây có thể xem là thành tựu nghệ thuật quan trọng, nhà văn tạo ra nhân vật mang cá tính riêng nhưng cũng có đặc điểm chung của một tầng lớp, một giai cấp nhất định. Trong văn học hiện thực phê phán, có thể kể đến một số kiểu nhân vật điển hình:
Kiểu nhân vật lao động bị áp bức nhưng có tinh thần phản kháng, tiêu biểu như chị Dậu hay anh Pha, những con người nghèo khổ nhưng vẫn giữ được phẩm chất tốt đẹp và tinh thần đấu tranh trước sự áp bức.
Kiểu nhân vật bị áp bức, phản ánh quá trình con người bị biến đổi dưới tác động của hoàn cảnh xã hội. Sự tha hóa ấy diễn ra ở cả tầng lớp thống trị với những kẻ mất hết nhân tính như Bá Kiến, Nghị Hách, lẫn những người lao động bị dồn ép đến mức đánh mất nhân phẩm như Chí Phèo hay Tám Bính.
Kiểu nhân vật trí thức bi kịch, những con người mang khát vọng sống và cống hiến nhưng bị cuộc sống cơm áo đè nặng, rơi vào tình trạng bế tắc giằng xé giữa lí tưởng cao đẹp và thực tại tầm thường.
Nghệ thuật phân tích tâm lý nhân vật cũng là một trong những yếu tố quan trọng làm nên thành công của dòng văn học hiện thực. Các nhà văn đã đi sâu khám phá đời sống nội tâm nhân vật, đặc biệt là những xung đột và biến chuyển tâm lý gắn với hoàn cảnh xã hội. Có thể kể đến các sáng tác của Nam Cao, khả năng khám phá thế giới nội tâm con người đạt đến trình độ cao, vận dụng linh hoạt điểm nhìn hạ tri và toàn tri, những diễn biến tâm lý phức tạp của nhân vật. Các tác giả khắc họa đời sống tinh thần của cá nhân, đồng thời đặt nó trong mối quan hệ mật thiết với hoàn cảnh xã hội và thời đại. Tâm lý nhân vật được thể hiện chân thực, tạo nên những hình tượng có chiều sâu và có sức ám ảnh lớn.
Về phương thức trần thuật, văn học hiện thực sử dụng điểm khách quan kết hợp linh hoạt với lời nửa trực tiếp giúp nhà văn nhập thân vào dòng suy nghĩ của nhân vật. Ngôn ngữ trong các tác phẩm gần gũi với lời ăn tiếng nói đời thường, giàu tình đả kích, mỉa mai nhưng cũng đầy thiết tha, nhân hậu.
Cảm hứng chủ đạo
Cảm hứng chủ đạo của phong cách hiện thực là cảm hứng phê phán, tập trung vào việc bóc trần những mặt tiêu cực, khuất tối, bất công của thực tại xã hội. Thông qua việc khắc hoạ chính xác và tỉ mỉ những bức tranh chân thực về cuộc sống, các nhà văn hiện thực thể hiện tinh thần phê phán các mối quan hệ thối nát, bộc lộ thái độ bất bình với thực tại và bày tỏ lòng cảm thương sâu sắc với những số phận khốn khổ.
Cảm hứng phê phán, đả kích là linh hồn của trào lưu hiện thực, dùng văn chương để phanh phui bản chất của xã hội thực dân phong kiến, đặc biệt là sự giả dối, bất công, những mâu thuẫn nghịch cảnh phi đạo lý. Với nhà văn như Nguyễn Công Hoan hay Vũ Trọng Phụng, cảm hứng này còn mang tính chất trào phúng, sử dụng tiếng cười mỉa mai sẽ đánh trúng vào bọn tham quan, cường hào ác bá và tầng lớp thị dân lố lăng.
Bên cạnh đó văn học hiện thực còn mang cảm hứng bi kịch, nhà văn đi sâu khai thác nỗi khổ cực cả về vật chất lẫn tinh thần của con người, đặc biệt là những kiếp “con sâu cái kiến” bị dồn vào đường cùng. Cảm hứng này thể hiện qua sự xót thương cho những nhân cách bị chà đạp, những số phận bị tha hoá hoặc rơi vào tình trạng “sống mòn”, “đời thừa”, vô nghĩa.
Đằng sau những hoàn cảnh sống cùng cực, khốn khổ ấy chính là cảm hứng nhân đạo. Tình yêu thương và sự trân trọng đối với con người được ẩn sau những trang viết tố cáo hiện thực, nhà văn cố gắng “khơi những nguồn chưa ai khơi”, phát hiện những phẩm chất tốt đẹp, sức sống, khát vọng hướng thiện của con người ngay cả trong những hoàn cảnh khắc nghiệt nhất. Chính cảm hứng nhân đạo mang đến chiều sâu tư tưởng, giá trị bền vững cho các tác phẩm hiện thực.
Cảm hứng hiện thực còn có sự chuyển biến từ phê phán sang phân tích, tác giả phản náh những hiện tượng xã hội, đi sâu lí giải nguyên nhân của chúng thông qua việc khám phá đời sống nội tâm cùng những diễn biến tâm lý phức tạp của nhân vật.
Cảm hứng chủ đạo của văn học hiện thực là sự kết hợp hài hòa giữa tinh thần phê phán mạnh mẽ và tư tưởng nhân đạo sâu sắc. Sự kết hợp này giúp các tác phẩm phản ánh chân thực hiện thực xã hội, thể hiện khát vọng hướng tới một cuộc sống công bằng, tốt đẹp, nhân văn hơn.
Phong cách hiện thực của Vũ Trọng Phụng qua các tác phẩm trong chương trình lớp 12
Quan điểm nghệ thuật của Vũ Trọng Phụng: “Tiểu thuyết là sự thật ở đời”
Vũ Trọng Phụng là một nhà văn hiện thực với ý thức phơi bày những mặt trái, mặt nhố nhăng của hiện thực xã hội đương thời. Ông sắc sảo trong việc xây dựng những chân dung biếm họa, luôn tìm thấy những chi tiết độc đáo có thể lột trần chân tướng của sự vật, hiện tượng, con người thuộc nhiều tầng lớp khác nhau. Ông quan niệm văn học phải “nhìn thẳng vào dời thực, dũng cảm mổ xẻ phanh phui phơi bày thực trạng của xã hội”.
Trong con mắt của Vũ Trọng Phụng, xã hội là một “tấn hài kịch” mà kẻ đạo diễn chính là đồng tiền vạn năng và số mệnh. Điều này dẫn đến một phong cách hiện thực luôn gắn liền với giọng điệu trào phúng, mỉa mai để phản ánh thực tại nhơ nhuốc.
Biểu hiện phong cách hiện thực trong “Số đỏ” và “Hạnh phúc của một tang gia”
Nhà văn cực kỳ sắc sảo trong việc xây dựng các chân dung biếm họa, lột trần chân tướng của các tầng lớp xã hội thực dân nửa phong kiến. Đó là những nhân vật điển hình như Xuân Tóc Đỏ (kẻ lưu manh nhảy vọt lên tầng lớp thượng lưu), cụ cố Hồng (ngu dại, há danh), bà Phó Đoan (dâm đãng núp bóng đức hạnh), hay ông Typn (nhà mĩ thuật lăng nhăng).
Để tăng cường khả năng bao quát hiện thực, Vũ Trọng Phụng sử dụng triệt để các thủ pháp cường điệu, nói mỉa và nghịch ngữ. Ví dụ, trong đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia, cái chết của một người lại trở thành niềm vui và cơ hội khoe khoang cho cả một gia đình “văn minh”, tạo nên một tình huống nghịch dị đầy tính phê phán. Giọng văn của ông luôn đanh thép tràn đầy ý châm biếm cho sự thối nát, lố bịch của xã hội thượng lưu miền Bắc thời bấy giờ.
Điểm nhìn trần thuật khách quan ở ngôi thứ ba
Cách tổ chức kể chuyện của Vũ Trọng Phụng đóng vai trò quan trọng trong việc làm sáng tỏ bản chất hiện thực. Nhà văn thường chọn ngôi kể thứ ba, người kể đứng ngoài câu chuyện để dẫn dắt các tình tiết một cách khách quan. Dù đứng ngoài, người kể chuyện vẫn khéo léo lồng ghép để bộc lộ tư tưởng, quan niệm và thái độ phê phán của tác giả qua từng hình tượng và chi tiết nghệ thuật. Điểm nhìn khách quan này giúp tạo ra một khoảng cách nghệ thuật cần thiết để nhà văn thể hiện giọng điệu châm biếm, đả kích mạnh mẽ hơn.
Mối quan hệ giữa thủ pháp trào phúng và phong cách hiện thực
Trong văn chương Vũ Trọng Phụng, trào phúng không hề mâu thuẫn mà là biểu hiện sinh động nhất của phong cách hiện thực. Trào phúng được sử dụng như một công cụ đắc lực để tô đậm chủ đề phê phán xã hội. Thông qua những chi tiết độc đáo, biếm họa, nhà văn làm nổi bật sự tha hóa, suy đồi của các nhân vật thuộc nhiều tầng lớp khác nhau. Thủ pháp trào phúng giúp Vũ Trọng Phụng khái quát được bản chất của một xã hội “nhố nhăng”, nơi “ông hóa ra thằng, thằng hóa ra ông”. Chính tiếng chửi vỗ mặt và chuỗi cười dài bất tận trong các tác phẩm như Số đỏ đã tạo nên sức sống xuyên thế kỷ cho phong cách hiện thực của ông.
Bài tập vận dụng nhận biết và phân tích phong cách hiện thực
Dạng 1: Câu hỏi trắc nghiệm nhận biết dấu hiệu phong cách hiện thực qua đoạn trích
Câu 1: Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi:
“Cái chết kia đã làm cho nhiều người sung sướng lắm... Bọn con cháu vô tâm ai cũng sung sướng, nhưng họ đều ăn mặc theo lối đại tang, mặt thì buồn rầu làm cho người ta phải kính trọng... Cái gậy của cụ cố Hồng cứ chống xuống đất, vừa chống vừa khóc, làm cho đám ma càng thêm phần long trọng.” (Trích Hạnh phúc của một tang gia – Vũ Trọng Phụng)
Dấu hiệu nào sau đây thể hiện rõ nét nhất phong cách hiện thực phê phán của Vũ Trọng Phụng trong đoạn trích?
A. Sử dụng ngôn ngữ mang tính ước lệ, tượng trưng để ca ngợi đạo đức tổ tiên
B. Xây dựng nhân vật mang tính cách phi thường, có tâm trạng thoát ly thực tại
C. Phản ánh trần trụi bản chất giả dối của xã hội thông qua các chi tiết chân thực, mỉa mai và thủ pháp tương phản
D. Tập trung miêu tả vẻ đẹp thiên nhiên kì ảo để làm giảm bớt không khí đau buồn của đám tang
Câu 2: Đọc đoạn trích sau về ngoại hình nhân vật Chí Phèo:
“Hắn về lần này trông khác hẳn, mới đầu chẳng ai biết hắn là ai. Trông đặc như thằng sắng đá! Cái đầu cạo trọc lốc, cái răng cạo trắng hớn, cái mặt thì đen mà rất cơng cơng, hai mắt gườm gườm trông gớm chết.” (Trích Chí Phèo – Nam Cao)
Đoạn văn trên đáp ứng nguyên tắc nào của phong cách hiện thực?
A. Lý tưởng hóa ngoại hình nhân vật để gây thiện cảm với người đọc
B. Mô tả nhân vật một cách khách quan, chính xác, tỉ mỉ theo đúng "sự thực ở đời" và quá trình tha hóa của hoàn cảnh
C. Sử dụng nhiều điển cố, điển tích để làm tăng tính trang trọng cho nhân vật
D. Tập trung khai thác những rung động tinh vi, mơ hồ trong thế giới nội tâm nhân vật
Câu 3: Đọc đoạn trích nói về công việc của Xuân Tóc Đỏ tại tiệm may Âu hóa:
“... anh phải biết tên các đồ hàng, các mốt y phục, để cho khách vào hàng thì có thể chỉ bảo cho khách có một cái gu! Mỗi khi có một người bằng lòng may một bộ y phục tân thời, thế là nước nhà lại có thêm một người tiến bộ.” (Trích Số đỏ – Vũ Trọng Phụng)
Phát ngôn của nhân vật ông Typn phản ánh đặc điểm nào của phong cách hiện thực phê phán?
A. Phanh phui bản chất lố lăng, giả dối của các phong trào "cải cách xã hội" hời hợt đương thời.
B. Đề cao lý tưởng anh hùng và các giá trị đạo đức, luân lý truyền thống
C. Khám phá thế giới nội tâm phức tạp và những khát vọng cá nhân tự do
D. Ca ngợi sự phát triển vượt bậc của nền văn minh hiện đại
Gợi ý:
C (Cần chú ý về sự mẫu thuẫn giữa “cái chết” và sự “sung sướng” của đám con cháu)
B (Chú ý các chi tiết tả thực trần trụi về ngoại hình của Chí Phèo, nhà văn dùng chi tiết cụ thể để phản ánh sự tác động của môi trường xã hội (nhà tù) lên con người)
A (Giọng điệu mỉa mai của tác giả đối với khái niệm “tiến bộ” chỉ thông qua bộ quần áo)
Dạng 2: Viết đoạn văn phân tích một đặc điểm của phong cách hiện thực thể hiện trong văn bản cụ thể trong chương trình lớp 12
Đề bài: Viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích đặc điểm “xây dựng nhân vật điển hình trong hoàn cảnh điển hình” qua nhân vật Xuân Tóc Đỏ trong đoạn trích Xuân Tóc Đỏ cứu quốc (trích tiểu thuyết Số đỏ – Vũ Trọng Phụng).
Gợi ý hướng làm bài
Giới thiệu đặc điểm: Đây là “phạm mục quan trọng nhất của mĩ học hiện thực”. Nhân vật điển hình là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa cái riêng biệt, độc đáo (cá thể hóa) và cái chung bản chất (khái quát hóa), hay còn gọi là “người lạ mặt quen biết”.
Đoạn trích đặt nhân vật vào một bối cảnh xã hội thực dân nửa phong kiến đầy nhố nhăng, giả dối với phong trào “Âu hóa” hời hợt. Đó là một xã hội “quần ngư tranh thực”, nơi các giá trị đạo đức bị đảo lộn và sự may rủi lên ngôi.
Phân tích nhân vật: Xuân Tóc Đỏ là điển hình cho loại người lưu manh “chó nhảy bàn độc”:
Cái riêng: Sự lém lỉnh, nhanh trí, tài ngụy biện và thói lăng nhăng của một kẻ xuất thân từ tầng lớp dưới đáy xã hội
Đại diện cho tầng lớp cơ hội, vô học nhưng nhờ sự hỗn loạn của thời đại mà leo cao, trở thành “vĩ nhân”, “anh hùng cứu quốc”.
Chính hoàn cảnh xã hội “chó đểu” đã nhào nặn và tạo đất diễn cho một tính cách như Xuân Tóc Đỏ phát triển đến đỉnh cao của sự nực cười
Nghệ thuật:
Sử dụng các thủ pháp trào phúng như nói mỉa, nghịch ngữ và cường điệu để lột trần chân tướng nhân vật
Điểm nhìn trần thuật khách quan giúp tác giả phơi bày hiện thực “như nó vốn có” mà không cần lý tưởng hóa
Khẳng định giá trị của việc xây dựng nhân vật điển hình: không chỉ để phê phán một cá nhân mà là để bóc trần bản chất thối nát của cả một hệ thống xã hội đương thời.
Dạng 3: So sánh phong cách hiện thực và phong cách lãng mạn qua hai đoạn trích cho sẵn
Đề bài: Đọc hai đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:
Đoạn trích A: “Thưa chư quân liệt vị, tôi rất lấy làm đau đớn mà phải nói với chư quân liệt vị rằng, vì lòng ái quốc, tôi đã phải nhường cho người Xiêm cái vinh dự thắng tôi ở trận quần vợt hôm nay... Nhờ cái đức hy sinh của tôi mà chư quân còn giữ được cái tinh thần yêu nước, chư quân còn có cái vinh dự được làm người của một dân tộc chưa bại trận... Xuân vừa dứt lời, tiếng vỗ tay như sấm, tiếng hoan hô rầm trời: "Xuân Tóc Đỏ vạn tuế!", "Anh hùng cứu quốc vạn tuế!"... (Trích Xuân Tóc Đỏ cứu quốc – Vũ Trọng Phụng)
Đoạn trích B: “Sao ở vùng nhà quê lại có người đẹp trai đến thế, nước da trắng mát, tiếng nói dịu dàng, trong trẻo như tiếng con gái... Ngọc càng bị thu hút bởi vẻ đẹp toàn diện, hoàn mỹ của chú tiểu Lan... Hai bên lề đường, lúa chiêm vàng ối. Gió chiều hây hẩy đã mát, mùi lúa chín bốc lên thơm phức, khiến Ngọc ngắm cảnh nơi thôn dã êm đềm, trong lòng biết bao tình cảm.” (Trích Hồn bướm mơ tiên – Khái Hưng)
Hãy so sánh phong cách nghệ thuật được thể hiện qua hai đoạn trích trên để làm rõ sự khác biệt giữa phong cách hiện thực và phong cách lãng mạn trên các phương diện: Đề tài và cảm hứng; Hình tượng nhân vật; Thủ pháp nghệ thuật.
Gợi ý hướng làm bài chi tiết
Điểm chung của hai đoạn trích
Cả hai đều là những phương thức sáng tác dùng hình tượng nghệ thuật làm phương tiện biểu đạt để phản ánh tâm tư, khát vọng và hiện thực đời sống con người.
Đều thuộc trào lưu văn học phát triển mạnh mẽ tại Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945.
Sự khác biệt giữa hai phong cách:
Tiêu chí | Đoạn trích A (Phong cách hiện thực) | Đoạn trích B (Phong cách lãng mạn) |
|---|---|---|
Đề tài và cảm hứng | Khai thác hiện thực đời thường, đặc biệt là những mâu thuẫn xã hội gay gắt. Cảm hứng chủ đạo là phê phán, trào phúng, bóc trần sự giả dối, lố lăng của xã hội thực dân nửa phong kiến. | Thiên về thế giới nội tâm, những cảm xúc, khát vọng yêu thương và lý tưởng thăng hoa vượt lên trên hiện thực. Cảm hứng chủ đạo là ngợi ca cái đẹp, sự tự do và tình yêu lãng mạn. |
Hình tượng nhân vật | Xây dựng tính cách điển hình trong hoàn cảnh điển hình. Nhân vật Xuân Tóc Đỏ là "người lạ mặt quen biết", điển hình cho kiểu người lưu manh cơ hội, trơ trẽn, đại diện cho bản chất xã hội nhố nhăng. | Xây dựng hình tượng lý tưởng hoặc phi thường. Nhân vật Ngọc và Lan là những "trai tài gái sắc", thông minh, hào hoa, mang vẻ đẹp toàn diện và lý tưởng, hướng tới sự thăng hoa tâm hồn. |
Thủ pháp nghệ thuật | Ưu tiên mô tả khách quan, chân thực. Sử dụng các thủ pháp trào phúng, nói mỉa, nghịch ngữ và cường điệu để tạo ra tiếng cười giễu nhại dành cho sự lố bịch. | Ưu tiên sức mạnh của sự tưởng tượng, đề cao cảnh sắc thiên nhiên thơ mộng, tráng lệ. Ngôn ngữ giàu hình ảnh, biểu cảm, trau chuốt và thấm đẫm chất thi sĩ để phản ánh diễn biến tâm hồn. |
Tổng kết và đánh giá:
Đoạn trích A: Khẳng định quan điểm “tiểu thuyết là sự thật ở đời”, coi văn chương là vũ khí mổ xẻ hiện thực trần trụi bằng giọng điệu đanh thép, mỉa mai.
Đoạn trích B: Thể hiện đặc trưng của nhóm Tự Lực Văn Đoàn, coi văn chương là phương tiện giải phóng cái tôi cá nhân, hướng con người tới cõi tinh thần thanh khiết và cao thượng.
Sự song hành của hai phong cách đã làm nên một mùa màng ngoạn mục, đóng góp to lớn vào công cuộc hiện đại hóa nền văn học dân tộc giai đoạn 1930 - 1945.
Kết luận
Phong cách hiện thực là phương thức sáng tác tái hiện trung thực và khách quan thực tại xã hội “như nó vốn có”. Đặc điểm cốt lõi của phong cách này là xây dựng “tính cách điển hình trong hoàn cảnh điển hình”, phản ánh chân thực số phận con người bị chi phối bởi môi trường sống.
Dấu hiệu nhận biết tiêu biểu bao gồm đề tài đời thường, ngôn ngữ mộc mạc và điểm nhìn trần thuật khách quan. Khác với phong cách lãng mạn vốn đề cao trí tưởng tượng và cái tôi lý tưởng, phong cách hiện thực tập trung bóc trần những mâu thuẫn và góc khuất của đời sống xã hội.
Việc nắm vững tri thức về phong cách hiện thực là nền tảng không thể thiếu giúp học sinh đọc hiểu và phân tích văn bản hiệu quả trong kỳ thi tốt nghiệp THPT. Học sinh xem thêm các bài học lý luận và tác phẩm trọng tâm trong chương trình Ngữ Văn 12 tại ZIM Academy.
Nguồn tham khảo
“Từ điển thuật ngữ Văn học (mục chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa hiện thực phê phán) .” Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam , Accessed 7 tháng 1 2013.
“Lý luận văn học .” Nhà xuất bản Giáo dục , Accessed 7 tháng 4 2006.
“Đặc trưng của Chủ nghĩa hiện thực phê phán trong Văn học Việt Nam .” Lớp học Ngữ văn - Lí luận văn học , https://lophocnguvan.com/dac-trung-cua-chu-nghia-hie%CC%A3n-thuc-phe-phan-trong-van-hoc-vie%CC%A3t-nam/. Accessed 17 tháng 3 2025.
“Chuyên đề Văn học hiện thực 1930 - 1945.” Văn Học Trẻ, https://vanhoctre.com/van-hoc-hien-thuc-1930-1945.html. Accessed 23 tháng 5 2023.
“Ước vọng đánh rơi .” Rubik Văn Chương , https://www.facebook.com/Rubikvanchuong/photos/g%C3%B3c-nh%C3%ACn-rubiklink-%C4%91%C4%83ng-k%C3%BD-l%E1%BB%9Bp-llvh-v%C3%A0-nlxh-httpsformsglejjz4ezlkd1deeiqp6-%C6%B0%E1%BB%9Bc-v/989083356580097/. Accessed 17 tháng 12 2024.

Bình luận - Hỏi đáp