Banner background

Yếu tố siêu thực trong thơ là gì? Đặc điểm, tác dụng và ví dụ

Yếu tố siêu thực là hình ảnh phi logic, gợi cảm giác mơ hồ như trong giấc mơ hay vô thức nhằm diễn tả thế giới nội tâm sâu kín
yeu to sieu thuc trong tho la gi dac diem tac dung va vi du

Key takeaways

Yếu tố siêu thực trong thơ là sự kết hợp phi logic giữa các thực tại xa nhau, bắt nguồn từ vô thức và giấc mơ. Điểm cốt lõi gồm tính bất ngờ, phi lý nhằm giải phóng cảm xúc khỏi sự kiểm soát của lý trí. Đồng thời diễn tả uẩn khúc trong tâm hồhồn, buộc người đọc phải chủ động giải mã các biểu tượng nghệ thuật.

Văn chương không chỉ là tấm gương phản chiếu thực tại khách quan mà còn là nơi trú ngụ của những giấc mơ và những miền tâm linh thẳm sâu. Chính vì lẽ đó, yếu tố siêu thực trong thơ ca hiện đại đã xuất hiện mang đến cho ngôn ngữ thơ một năng lượng gợi dẫn mãnh liệt. Bằng việc lắp ghép những hình ảnh phi logic thi pháp này đã mở ra những "mê cung tưởng tượng" đa diện, đa chiều, xóa bỏ mọi giới hạn hiện tồn. Đối với học sinh lớp 12, việc nắm vững đặc điểm và tác dụng của yếu tố siêu thực chính là phương pháp thiết thực để thấu cảm những uẩn khúc nội tâm và nhân cách nghệ sĩ ẩn sau lớp vỏ ngôn từ đầy ám gợi.

Yếu tố siêu thực trong thơ là gì?

Trước hết yếu tố siêu thực là những chi tiết, hình ảnh kì lạ, ngôn ngữ và cách diễn đạt phi thực tế vốn không tuân theo các quy luật logic thông thường của đời sống khách quan. Những yếu tố này thường gắn kết với nhau theo một logic khác thường, tạo cho người đọc cảm giác mơ hồ, bí ẩn, tương tự như những trải nghiệm trong giấc mơ hoặc cõi vô thức[1].

Về bản chất, sự hiện diện của các hình ảnh siêu thực gắn liền với việc “cất lời” của tiềm thức và vô thức thông qua “lối viết tự động”, nhằm khám phá một hiện thực khác ẩn đằng sau những hiện tượng thông thường và xây dựng một thế giới pha trộn giữa ảo giác và thực tế.

Harlequin’s Carnival (1924)
Harlequin’s Carnival (1924)

Về nguồn gốc, chủ nghĩa siêu thực (Surrealism) là một hệ thống lý thuyết nghệ thuật khởi phát từ phương Tây vào đầu thế kỉ XX[2]. Nó đóng vai trò là một trong những lý thuyết quan trọng thúc đẩy tiến trình cách tân thơ hiện đại Việt Nam từ năm 1930, nhằm thay đổi những quan niệm truyền thống về nghệ thuật và để lại dấu ấn đậm nét từ thời kỳ Thơ mới[2].

Việc phân biệt sơ lược giữa yếu tố siêu thực và yếu tố tượng trưng dựa trên những khác biệt cơ bản sau:

  • Chủ nghĩa tượng trưng thường hướng tới một “thế giới lý tưởng” đối lập với hiện thực, đề cao cái tôi và tiếng nói của tâm hồn[2]. Các nhà thơ tượng trưng sử dụng mạnh mẽ các biểu tượng và ẩn dụ để biểu đạt cho những khái niệm trừu tượng.

  • Chủ nghĩa siêu thực lại coi chính hiện thực và sự vật là đối tượng sáng tác để vượt thoát khỏi các định đề sẵn có. Khác với tượng trưng, thơ siêu thực tạo ra một thế giới phi lý thoát khỏi ràng buộc thực tại bằng cách kết nối các sự vật xa nhau với cường độ cao để tạo ra ý niệm độc đáo, đồng thời xu hướng từ chối tượng trưng hoá sự vật và hạn chế sử dụng ẩn dụ[2].

Đặc điểm của yếu tố siêu thực

Đặc điểm cốt lõi của yếu tố siêu thực trong thơ trước hết được thể hiện ở sự dịch chuyển trọng tâm từ thế giới lý trí sang thế giới vô thức, trực giác, giấc mơ hay ảo giác, hoàn toàn khước từ sự kiểm soát của lý trí hay các quy luật logic thông thường[3]. Dựa trên nền tảng tâm lý học của Freud và thuyết trực giác của Bergson, thơ siêu thực chủ trương để cảm xúc tuôn trào tự do thông qua “lối viết tự động”, nhằm khám phá những miền tâm linh và tiềm thức mà thơ ca đương đại ít chạm đến[4]. Hình ảnh trong thơ siêu thực được tạo lập từ sự “xích lại gần nhau của hai hiện thực ít nhiều xa nhau”, sự cách biệt về nghĩa giữa chúng càng lớn thì hiệu ứng thẩm mỹ tạo ra càng mạnh mẽ. Để một hình ảnh đạt đến chất siêu thực, nó phải hội tụ đủ ba yếu tố cốt lõi: bất ngờ, sai biệt và phi lý.

Trường phái siêu thực có những đặc điểm riêng biệt để nhận biết
Trường phái siêu thực có những đặc điểm riêng biệt để nhận biết

Bên cạnh đó, các nhà thơ thường sử dụng thủ pháp “ẩn dụ siêu thực” để lạ hoá hình tượng, làm nhoè đi mọi ranh giới giữa cái hữu hình và vô hình, giữa nội tâm và ngoại giới khiến người đọc không thể phân biệt được đâu là thực, đâu là hư, cái hữu hình, vô hình nội tâm và ngoại giới, chủ thể và khách thể[4].

Trong không gian nghệ thuật đó, mọi giác quan bị trộn lẫn, các quy luật bình thường về ngữ pháp và thi pháp bị đảo lộn, dẫn đến những sáng tạo độc đáo như việc nhân hoá đồ vật hoặc vật hoá con người. Những yếu tố thực tại như thời gian, không gian, con người đều bị bóp méo và nhào nặn lại trong một “vector” tưởng tượng khác chiều để tạo ra những “mật mã” ở tầng sâu ý tưởng[4].

Ngoài ra, việc sử dụng phép tĩnh lược (bỏ trống hay chấm phá, đứt quãng) với tần suất cao cũng là một đặc điểm quan trọng, tạo nên một không khí mộng mị, ma mị, buộc độc giả phải vận dụng trí tưởng tượng để dò tìm và suy tưởng. Sau cùng, tất cả những đặc điểm này đều nhằm mục đích chống lại sự xơ cứng của thực tại sáo mòn để đi tìm hiện thực ở một tầm cao mới.

Tác dụng của yếu tố siêu thực trong thơ ca

Yếu tố siêu thực trong thơ ca đóng vai trò là một công cụ cách tân mạnh mẽ, giúp kiến tạo nên một không gian nghệ thuật huyền ảo và đầy mộng mị. Bằng cách xoá bỏ những giới hạn hiện tồn và làm mờ đi các yếu tố thực hữu, bút pháp này dẫn dụ người đọc vào một mê cung tưởng tượng đa diện, đa chiều khi cảm xúc được bộc lộ tự do mà không bị kìm kẹp bởi thế giới vật chất hay quy luật logic thông thường.

Breton’s manifesto was written and published in 1924
Breton’s manifesto was written and published in 1924

Bên cạnh đó, yếu tố còn là phương tiện giúp nhà thơ biểu đạt những tâm trạng, suy tư và chiều sâu nội tâm sâu sắc mà ngôn ngữ thông thường khó lòng chuyển tải trọn vẹn. Những hình ảnh được “lạ hoá” và ẩn dụ chuyển đổi cảm giác (như “tiếng đàn bọt nước” - Đàn ghi-ta của Lorca) không chỉ làm lời thơ trở nên ảo diệu mà còn đánh thức mọi giác quan, tăng sức gợi cảm và khai dẫn những liên tưởng phóng khoáng[5].

Đặc biệt, sự xuất hiện của yếu tố siêu thực còn đề cao vai trò của độc giả, trao cho họ quyền năng cảm thụ theo tiên nghiệm của cá nhân[5]. Tuy nhiên điều này cũng đặt ra thách thực trong việc giải mã văn bản, buộc người đọc phải đắm chìm vào không gian tưởng tượng, chủ động tìm tòi những khía cạnh ẩn sau các hình ảnh phi lý để thấu cảm trọn vẹn lý tưởng và nhân cách của người nghệ sĩ. Cuối cùng, yếu tố này còn giúp tác giả phản ánh và tố cáo thực tại hoặc bày tỏ thái độ trước những vấn đề về thân phận con người qua những “mật mã” nghệ thuật đầy biến ảo.

Ví dụ về yếu tố siêu thực trong thơ

Phân tích qua các tác phẩm trong chương trình Ngữ văn 12

Yếu tố siêu thực trong tác phẩm “Đây thôn Vĩ dạ” - Hàn Mặc Tử

Trong tác phẩm Đây thôn Vĩ dạ, yếu tố siêu thực được Hàn Mặc Tử sử dụng như một phương thức để dịch chuyển từ thế giới thực tại sang thế giới của mộng tưởng và tiềm thức, nhằm bộc lộ nỗi đau cùng khát khao giao cảm mãnh liệt của tâm hồn đầy uẩn khúc[6]. Thế giới siêu thực này hiện lên rõ nét trước hết qua những hình ảnh phi lý, phá vỡ quy luật logic của tự nhiên:

“Gió theo lối gió, mây đường mây

Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay”

Trong thực tế, gió thổi mây bay, nhưng ở đây chúng lại chia lìa đôi ngả, trở thành biểu tượng cho sự ngăn cách tuyệt vọng trong tâm hồn nhà thơ. Đặc biệt, không gian “bến sông trăng” với câu hỏi:

“Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

Có trở trăng về kịp tối nay?”

đã đưa cảnh vật thoát ly khỏi thực tại khách quan để tiến vào địa hạt của ảo giác. Ở đó, dòng sông chảy bằng ánh sáng và thời gian được đo bằng “kịp” hay “không kịp” của một hy vọng mong manh.

Bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ
Bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ

Yếu tố siêu thực được bộc lộ đậm nét nhất ở khổ thơ cuối, ranh giới giữa thực và hư bị xoá nhoà hoàn toàn:

“Mơ khách đường xa, khách đường xa

Áo em trắng quá nhìn không ra…

Ở đây sương khói mờ nhân ảnh

Ai biết tình ai có đậm đà?”

Chữ “mơ” dường như xác định trạng thái tâm linh của chủ thể, biến hình ảnh “khách đường xa” trở thành một nhân ảnh mờ ảo, cứ xa dần và nhạt nhoà trong sương khói. Cách diễn đạt “trắng quá nhìn không ra” chính là sự “lạ hoá” về cảm giác cho thấy cái đẹp đã đạt đến mức loá mắt, vượt qua sức tưởng tượng nên không không còn là thực nữa. Kết thúc bằng hình ảnh “sương khói mờ nhân ảnh”, Hàn Mặc Tử sử dụng bút pháp tượng trưng chú trọng vào tính ám gợi chứ không tả, dùng biểu tượng mờ nhoè để nói lên cảm xúc, tâm trạng của thi nhân - một tình yêu kín đáo, thiết tha nhưng đầy vô vọng giữa một số phận nhiều bất hạnh[6]. Từ đó, Hàn Mặc Tử lý giải tâm trạng uẩn khúc, nỗi đau thân phận và khát khao giao cảm mãnh liệt với cuộc đời trong những phút giây đau thương nhất của số phận.

Đây thôn Vĩ dạ
Đây thôn Vĩ dạ

Yếu tố siêu thực xuất hiện trong thơ đã góp phần tạo nên giá trị nghệ thuật đặc sắc cho bài thơ. Trước hết, nó đã tạo nên không gian thơ huyền ảo, đa chiều, cảnh tượng trong thơ chuyển dịch từ cảnh thực thôn Vĩ sang thế giới mộng tưởng với bến sông trăng, sương khói và nhân ảnh mờ nhoè. Việc sử dụng bút pháp tượng trưng - siêu thực giúp thi giới không còn rõ nét mà trở nên ám gợi, sử dụng biểu tượng để nói lên cảm xúc thay vì tả thực.

Bên cạnh đó, tác giả sử dụng cách diễn đạt “lạ hoá” như “Áo em trắng quá nhìn không ra” biến màu trắng thành một ấn tượng đặc biệt, vượt khỏi khả năng cảm nhận thông thường của con người. Đồng thời những hình ảnh phi lý tính buộc độc giả phải vận dụng trực giác và sự rung cảm của tâm hồn để giải mã các lớp nghĩa ẩn sau màn sương khói nghệ thuật.

Ở nội dung tư tưởng, yếu tố siêu thực đã diễn tả những trạng thái tâm lý phức tạp của cái tôi trữ tình, bộc lộ cái tôi cô đơn, đầy mặc cảm về sự chia lìa và nỗi ám ảnh về hạnh phúc mong manh, hư ảo của Hàn Mặc Tử. Chữ “mơ” lặp lại nhiều lần đưa người đọc vào địa hạt của vô thức, ảo giác - nơi những khát khao sâu kín nhất được cất lời thông qua nhân ảnh chập chờn. Qua thế giới mờ ảo, nhà thơ gửi gắm chiêm nghiệm về sự ngắn ngủi của kiếp người, rằng cuộc đời rồi sẽ tan vào hư vô, chỉ có tình người chân thành mới là giá trị vĩnh cữu tồn tại giữa số phận đau thương.

Yếu tố siêu thực trong tác phẩm “Đàn ghi-ta của Lorca” - Thanh Thảo

Trong tác phẩm Đàn ghi-ta của Lorca, nhà thơ Thanh Thảo đã vận dụng tài hoa các thủ pháp của chủ nghĩa siêu thực để tạo nên một bản giao hưởng ngôn từ đầy ám ảnh, thể hiện sự tri âm sâu sắc với người nghệ sĩ thiên tài Tây Ban Nha[7], yếu tố siêu thực hiện diện qua sự tương giao cảm giác, nơi âm thanh của tiếng đàn không chỉ được cảm nhận bằng thính giác mà còn bằng thị giác và xúc giác:

“những tiếng đàn bọt nước
Tây Ban Nha áo choàng đỏ gắt
li-la li-la li-la
đi lang thang về miền đơn độc
với vầng trăng chếnh choáng
trên yên ngựa mỏi mòn

Tây Ban Nha
hát nghêu ngao
bỗng kinh hoàng
áo choàng bê bết đỏ
Lorca bị điệu về bãi bắn
chàng đi như người mộng du

tiếng ghi-ta nâu
bầu trời cô gái ấy
tiếng ghi-ta lá xanh biết mấy
tiếng ghi-ta tròn bọt nước vỡ tan
tiếng ghi-ta ròng ròng
máu chảy”

Đây là những kết hợp ngôn từ phi logic theo lối tư duy thông thường nhưng lại tạo ra sức gợi cảm mãnh liệt. Tiếng đàn vốn vô hình nay trở nên hữu hình với màu sắc, “nâu”, “xanh”, hình khối “tròn” và thậm chí là có thể “ròng ròng máu chảy” một ẩn dụ siêu thực đau đớn về cái chết của Lorca và sự tan vỡ của cái đẹp trước bạo tàn.

Đàn Ghi-ta của Lorca
Đàn Ghi-ta của Lorca

Bên cạnh đó, yếu tố siêu thực còn tạo nên một không gian nghệ thuật mộng ảo, xoá nhoà ranh giới giữa thực tại và hư vô. Khi Lorca bị hành hình, ông xuất hiện trong câu thơ “chàng đi như người mộng du” vào thế giới của tiềm thức. Đặc biệt hình ảnh “giọt nướt mắt vầng trăng long lanh trong đáy giếng là một thành công rực rỡ của bút pháp siêu thực, khi sự kiện bi thảm (ném xác xuống giếng) được biến hoá thành vầng trăng huyền thoại, biểu tượng cho sự tinh khiết và bất tử của linh hồn nghệ sĩ. Kết thúc bài thơ, hành động giải thoát của Lorca cũng mang đậm màu sắc kỳ ảo:

“…Lorca bơi sang ngang

trên chiếc ghi-ta màu bạc

chàng ném lá bùa cô gái di-gan

vào xoáy nước

chàng ném trái tim mình

vào lặng yên bất chợt…”

Việc bơi trên chiếc ghi-ta màu bạc sang dòng sông vĩnh cửu và ném trái tim vào lặng yên là những hình ảnh phi lý tính, giúp nhân vật thoát ly khỏi thực tại nghiệt ngã để tiến vào cõi tịch diệt bất tử[6]. Thông qua những “mật mã” siêu thực này, Thanh Thảo đã tái hiện một bi kịch lịch sử đồng thời còn khẳng định sức sống mãnh liệt, không thể tiêu diệt của nghệ thuật và cái đẹp.

Đàn Ghi-ta của Lorca
Đàn Ghi-ta của Lorca

Yếu tố siêu thực đã tạo nên những giá trị nghệ thuật độc đáo cho bài thơ. Bài thơ dẫn dắt độc giả vào những hình ảnh giàu biểu tượng với nhiều tầng lớp ý nghĩa. Những hình ảnh như “vầng trăng chếnh choáng”, “yên ngựa mỏi mòn” hay “giọt nước mắt vầng trăng” đã xoá nhoà ranh giới giữa thực tại và hư vô, giữa trời và đất, tạo nên một thứ giới đầy ám gợi. Thanh Thảo sử dụng ngôn ngữ một cách đặc biệt, tác giả lượt bỏ các quan hệ từ, phá vỡ quy tắc chính tả và ngắt câu linh hoạt để giải phóng cảm xúc. Việc dùng biện pháp ẩn dụ chuyển đổi cảm giác “tiếng ghi-ta nâu” giúp ngôn ngữ trở nên ảo diệu hơn bao giờ hết.

Không chỉ đem lại giá trị nghệ thuật, yếu tố siêu thực cũng góp phần bộc lộ chiều sâu nội dung tư tưởng. Yếu tố ấy bộc lộ nỗi cô đơn kinh hoàng khi đối diện với bạo lực “áo choàng bê bết đỏ” và nỗi ám ảnh về định mệnh khắc nghiệt “đường chỉ tay đã đứt”. Qua hình ảnh Lorca như một “người mộng du” hay hành động ném lá bùa, ném trái tim vào lặng yên, nhà thơ đã chạm tới những miền sâu thẳm của tiềm thức và tâm linh. Những hình ảnh siêu thực cuối bài khẳng định triết lý về sự bất tử của nghệ thuật, dù thể xác bị tiêu diệt, linh hồn Lorca vẫn “bơi sang ngang trên chiếc ghi-ta màu bạc” và tiếng đàn ấy vẫn “như mọc cỏ hoang”, lan toả sức sống vĩnh cửu trong lòng nhân dân.

Một số bài thơ dân gian, ca dao mang yếu tố siêu thực

Yếu tố siêu thực bắt đầu xuất hiện trong văn học Việt Nam từ giai đoạn phong trào Thơ mới, đặc biệt từ khoảng năm 1936 trở đi. Tuy nhiên, phải đến thời kì hậu Thơ mới, những yếu tố này mới phát triển mạnh mẽ và dần hình thành một khuynh hướng nghệ thuật rõ nét. Trước đó, trong văn học dân gian Việt Nam cũng đã xuất hiện những chi tiết mang màu sắc kì ảo như nhân hoá đồ vật hay vật hoá con người, nhưng các yếu tố ấy chỉ tồn tại rời rạc, tự phát và chưa được ý thức như một bút pháp hay một khuynh hướng sáng tác riêng biệt.

Một số bài thơ dân gian, ca dao mang yếu tố siêu thực
Một số bài thơ dân gian, ca dao mang yếu tố siêu thực

Ví dụ:

Con kiến mà leo cành đa

Leo phải càng cụt leo ra leo vào

Con kiến leo phải cành đào

Leo phải cành cụt, leo vào leo ra

→ Chỉ sự lặp lại luẩn quẩn, vô định của hình ảnh con kiến, phản ánh sự bế tắc trong kiếp sống nhỏ nhoi của con người.

Cái cò đi đón cơn mưa

Tối tăm mù mịt ai đưa cò về?

→ Hình ảnh con cò được nhân hoá mang thân phận con người trong không gian “tối tăm mù mịt.

Thông qua quá trình phát triển của văn học, sự xuất hiện của yếu tố siêu thực mang đến diện mạo mới cho thơ ca Việt Nam, mở rộng khả năng biểu đạt cảm xúc và tư tưởng của người nghệ sĩ.

Cách xác định và phân tích yếu tố siêu thực trong thơ khi làm bài thi

Cách xác định yếu tố siêu thực

Khi đọc thơ, cần chú ý những chi tiết mang tính bất thường, vượt khỏi logic và quy luật thông thường của đời sống. Yếu tố siêu thực thường xuất hiện qua các đặc điểm sau:

Phi logic/ phi thực tế:

Sự vật hoặc hiện tượng được đặt trong những hoàn cảnh không phù hợp với quy luật tự nhiên, tạo cảm giác lạ hoá

Ví dụ:

Ở cuối con đường bao quanh trái đất
Đó là nơi cái đầu nghiêng ra
Những tia nắng gần mái tóc
Gương mặt chết đuối
Nước mắt

Face/L'envers (Mặt sau) - Pierre Reverdy

Sự kết hợp kì lạ đối lập:

Nhà thơ đặt cạnh nhau những khái niệm tưởng như không thể đi cùng nhau để từ đó tạo nên những liên tưởng mới mẻ.

Ví dụ:

  • Màu sắc của âm thanh

  • Nỗi buồn của hình khối

Hình ảnh mang màu sắc mộng ảo:

Các chi tiết thường đứng giữa ranh giới thực và hư, giống như xuất hiện trong giấc mơ hay miền vô thức

Ví dụ:

Nàng ơi! Tay đêm đang giăng mềm

Trăng đan qua cành muôn tay êm

Mây nhung pha màu thu trên trời

Sương lam phơi màu thu muôn nơi

Tỳ bà - Bích Khê

Lưu ý thao tác khi làm bài

Khi xác định yếu tố siêu thực cần chú ý:

  • Trích dẫn chính xác từ ngữ hoặc câu thơ tiêu biểu

  • Chỉ ra dấu hiệu phi logic, kỳ lạ, mang yếu tố huyền ảo của hình ảnh đó

  • Gọi tên hiện tượng: yếu tố siêu thực, không gian mộng ảo,…

Cách xác định và phân tích yếu tố siêu thực trong thơ khi làm bài thi
Cách xác định và phân tích yếu tố siêu thực trong thơ khi làm bài thi

Cách phân tích yếu tố siêu thực

Khi phân tích yếu tố siêu thực trong thơ, trước hết cần chỉ ra hình ảnh kỳ ảo, phi logic xuất hiện trong câu thơ, tiếp đó phân tích cảm giác, ấn tượng mà hình ảnh ấy tạo ra đối với người đọc, từ đó lý giải ý nghĩa biểu đạt, tức tâm trạng, cảm xúc hoặc thông điệp mà nhà thơ muốn gửi gắm.

Bên cạnh đó, khi phân tích cần nêu được giá trị nghệ thuật và giá trị nội dung:

Giá trị nghệ thuật

  • Tạo nên không gian thơ huyền ảo, đa chiều, giàu tính biểu tượng

  • Làm mới ngôn ngữ thơ, tăng sức gợi hình, gợi cảm

  • Gây ấn tượng mạnh, kích thích trí tưởng tượng của người đọc

Giá trị nội dung

  • Diễn tả những trạng thái tâm lý phức tạp của cái tôi trữ tình cô đơn, ám ảnh, khát vọng, đau đớn, hoang mang,…

  • Thể hiện chiều sâu vô thức và thế giới nội tâm khó diễn đạt bằng lối mêu tả thông thường

  • Gửi gắm triết lý, suy tư của nhà thơ về con người và cuộc sống.

Xem thêm các bài viết thuộc mục Tri thức ngữ văn (trang 40) - SGK Kết nối tri thức:

Bài tập củng cố về yếu tố siêu thực trong thơ

Bài tập 1

Đề bài: Xác định và phân tích tác dụng của một hình ảnh siêu thực trong bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ.

Gợi ý đáp án:

Trong bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ, một hình ảnh siêu thực tiêu biểu chính là không gian “bến sông trăng” và con thuyền chở trăng qua hai câu thơ:

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

Có chở trăng về kịp tối nay?

Ánh trăng vốn là thực thể vô hình, phi vật chất, nhưng trong thi giới của Hàn Mặc Tử, trăng lại trở nên hữu hình, có trọng lượng để có thể “đậu” tại biến và được con thuyền “chở” đi như một món hàng cụ thể. Trong không gian kì ảo ấy, dòng sông thực tại của thôn Vĩ đã biến thành một dòng sông chảy bằng ánh sáng đầy huyền thoại, phá vỡ mọi quy luật logic của tự nhiên.

  • Giá trị nghệ thuật

    • Hình ảnh dịch chuyển từ điểm nhìn thực tại “thôn Vĩ” sang địa hạt của ảo giác và tiềm thức, làm nên một thế giới nghệ thuật mộng mị

    • Tác giả sử dụng ẩn dụ siêu thực để biến những sự vật quen thuộc trở nên biến hoá, thoát khỏi lối miêu tả tả thực.

    • Hình ảnh con thuyền chở trăng gây ấn tượng mạnh tới độc giả, kích thích trí tưởng tượng của người đọc cùng sự rung cảm của tâm hồn, chìm đắm vào trong không gian đầy lãng mạn.

  • Giá trị nội dung

    • Hình ảnh bộc lộ nỗi đau chia cắt tuyệt vọng và mặc cảm về sự hữu hạn của kiếp người, từ “kịp” gợi lên sự hối thúc, lo âu của một tâm hồn đang sống trong những giờ phút đau thương nhất của số phận

    • Từ hình ảnh con thuyền và bến sông trăng, nhà thơ đã “cất lời” từ miền sâu thẳm của tiềm thức, những khát khao về tình đời, tình người được thêu dệt lộng lẫy nhưng cũng đầy mong manh.

    • Yếu tố siêu thực làm nổi bật suy tư của thi sĩ về sự mong manh của hạnh phúc, cuộc đời có thể tan vào hư vô, chỉ có tình người tha thiết là giá trị vĩnh cửu tồn tại giữa thế giới mờ ảo.

Bài tập 2

Đề bài: So sánh yếu tố siêu thực trong thơ Hàn Mặc Tử và trong Đàn ghi-ta của Lorca — điểm tương đồng và khác biệt về cách biểu đạt.

Gợi ý đáp án:

Điểm tương đồng:

  • Cả hai nhà thơ đều xây dựng hệ thống hình ảnh phi lý tính, kì ảo khám phá hiện thực ở “tầm cao mới”. Ví dụ: “Gió theo lối gió, mây đường mây” → Hàn Mặc Tử viết về gió mây chia lìa ngược quy luật; trong khi đó Thanh Thảo viết về âm thanh có những cảm giác như con người, có thể chảy máu “Tiếng ghi-ta ròng ròng máu chảy”

  • Yếu tố siêu thực trong thơ ca Hàn Mặc Tử và Đàn ghi-ta của Lorca đều gắn liền với tiềm thức, đưa người đọc vào trạng thái đan xen giữa chiêm bao và tỉnh thức. Hàn Mặc Tử đắm chìm trong chữ “mơ” cùng nhân ảnh mờ nhoè, còn nhân vật Lorca của Thanh Thảo như “người mộng du” vào cõi vĩnh hằng.

  • Cả hai tác giả đều sử dụng các biểu tượng mờ nhoè, đa diện để “lạ hoá” thực tại, biến những sự vật quen thuộc (trăng, sông, tiếng đàn) trở nên biến ảo, giàu sức ám gợi.

  • Cách biểu đạt siêu thực buộc người đọc phải huy động trực giác, sự rung cảm để tự mình sản xuất ý nghĩa cho nghệ thuật

Điểm khác biệt:

Phương diện

Thơ Hàn Mặc Tử (Đây thôn Vĩ Dạ)

Thơ Thanh Thảo (Đàn ghi-ta của Lorca)

Cơ chế hình thành hình ảnh

Hình thành từ ảo giác và nỗi đau thân phận. Siêu thự trong thơ Hàn Mặc Tử thường gắn liền với ranh giới mờ nhoè giữa thực và mộng, nội tâm và ngoại giới

Hình thành tự sự tương giao cảm giác cùng tư duy liên văn bản. Thanh Thảo chủ động kết hợp âm thanh với màu sắc, hình khối, sử dụng các giác quan thính giác, thị giác, xúc giác

Đặc trưng ngôn ngữ

Sử dụng các tính từ và trạng từ chỉ mức độ cực đoan để tạo hiệu ứng “loá mắt” → “mướt quá”, “trắng quá nhìn không ra”

Sử dụng siêu ngôn ngữ (ngon ngữ dùng để miêu tả, phân tích hoặc thảo luận về chính một ngôn ngữ khác). Bỏ sử dụng quan hệ từ, phá vỡ quy tắc chính tả, ngắt dòng tuỳ tiện và dùng chuỗi từ mô phỏng âm thanh (li-la li-la)

Cách vật chất hoá cái vô hình

Tập trung cụ thể hoá ánh trăng (trăng đậu, chở trăng, bến trăng) để diễn tả nỗi khắc khoải về tình đời mong manh

Tập trung cụ thể hoá âm thanh (tiếng đàn bọt nước, tiếng đàn nâu, tiếng đàn xanh, tiếng đàn chảy máu) để nói về sự tan vỡ và bất tử của cái đẹp

Sắc thái thẩm mỹ

Mang tính chất ma mị, u uất, bộc lộ cái tôi cô đơn tuyệt vọng trước sự hư vô của kiếp trước

Mang tính bi tráng, ấn tượng mạnh, thể hiện sự tri âm và tôn vinh nhân cách nghệ sĩ can trường trước bạo tàn

Bài tập 3 (nâng cao)

Đề bài: Xác định yếu tố siêu thực trong bài thơ Hy Mã Lạp Sơn - Xuân Diệu và nêu ý nghĩa của ít nhất hai hình ảnh siêu thực trong bài thơ đó.

“…Ta là Một, là Riêng, là Thứ Nhất.
Không có chi bè bạn nối cùng ta
Bởi ghen trời, ta ngạo nghễ xông pha
Lên vút thẳm, đứng trên nghìn đỉnh núi,
Trên những chót đã bỏ đồi dưới suối,
Trên những mây đã bỏ núi ngang mây
Trên những đồng tuyết lạnh ở trên mây,
Ngang nhật nguyệt - Còn chi sân với ngõ!
Lầu vua chúa còn chi hơn bãi cỏ?
Nóc đền đài cũng thấp tựa lũng nham!
Ta lên cao như một ý siêu phàm
Nhìn vũ trụ muốn tranh phần cao vọi!
Đời đã hết. Chỉ riêng ta đứng mãi
Ở nơi đây không dấu vết loài người
Mua sạch trong bằng nỗi rét ngàn đời
Làm kiêu hãnh giữa lặng im bất dịch
Mây với gió chẳng bao giờ tới đích
Phượng hoàng lên, vừa thử cánh đã sa
Cỏ đôi chòm không gợn sắc xanh pha
Thoáng linh động nào qua con thú nhỏ
Hiu hắt nhẽ bốn phương trời vò võ,
Lạnh lùng chăng sầu một đỉnh chon von...
Ta tưởng nghe tê tái sắc câu dòn
Buồn vạn kỷ không ai vươn mắt ngắm
Ta cao quá, thì núi non thấp lắm,
Chẳng chi so, chẳng chi đến giao hoà
Ta bỏ đời mà đời cũng bỏ ta
Giữa vắng ngắt, giữa lạnh lùng thê tuyệt!
Ngoài tang trắng của tuyết rồi lại tuyết,
Hoạ chăng nghe gần gũi khúc ca trời;
Trong veo ngàn, hơi thuần tuý của hơi
Xuyên ngày tháng, vẫn vỗ về bên mái,
Và trời rót khúc ca trời cảm khái:
- “Cô đơn muôn lần, muôn thuở cô đơn
Người lên trời, ôi Hy Mã Lạp Sơn!”

Hy Mã Lạp Sơn - Xuân Diệu

Gợi ý đáp án:

Chỉ ra yếu tố siêu thực:

  • Tư thế đứng ngang hàng với "nhật nguyệt", trên cả những đồng tuyết "ở trên mây" và đặc biệt là sự tương giao cảm giác phi lý: "tê tái sắc câu dòn".

  • Tạo cảm giác thoát xác, choáng ngợp trước một không gian vô biên, "thê tuyệt", nơi thực tại bị bóp méo thành một ảo giác đầy kiêu hãnh nhưng lạnh lẽo.

    → Thể hiện khát khao tự khẳng định tuyệt đối của cái tôi cá nhân "Ta là Một, là Riêng..." và nỗi cô đơn vĩnh cửu khi tự tách biệt mình khỏi thế giới loài người.

Giá trị nghệ thuật:

  • Mở ra không gian đa chiều, huyền ảo; đỉnh núi trở thành biểu tượng của tham vọng và sự cô lập.

  • Ngôn ngữ "lạ hóa" qua các ẩn dụ siêu thực như "tang trắng của tuyết", "hơi thuần túy của hơi", tăng sức ám gợi.

  • Kích thích trí tưởng tượng mạnh mẽ, buộc người đọc phải giải mã những "mật mã" tâm linh thay vì tả thực.

Giá trị nội dung:

  • Diễn tả trạng thái cô đơn muôn thuở, mặc cảm chia lìa và niềm kiêu hãnh đầy đau đớn của người nghệ sĩ.

  • Khai phá địa hạt của tiềm thức và linh cảm thông qua trạng thái "mộng du" giữa vũ trụ.

  • Gửi gắm suy tư về sự hữu hạn của kiếp người và cái giá của đỉnh cao vĩ đại là sự tịch diệt, trống rỗng.

Kết luận

Yếu tố siêu thực trong thơ là một phương thức nghệ thuật giúp nhà thơ vượt qua những định đề sẵn có để chạm đến một "hiện thực ở tầm cao mới". Khai phá thế giới của vô thức và những giấc mơ, bút pháp đã tạo nên những không gian mộng mị, đa chiều. Dù thách thức độc giả trong việc giải mã các biểu tượng mờ nhòe, chính sự hiện diện của yếu tố siêu thực đã mang lại cho thơ ca hiện đại một nguồn năng lượng sáng tạo mãnh liệt, buộc người đọc phải tham gia tích cực vào quá trình tiếp nhận để thấu cảm trọn vẹn những uẩn khúc thẳm sâu của tâm hồn con người.

Để hiểu rõ hơn và mở rộng kiến thức về yếu tố siêu thực cũng như các phong cách thơ hiện đại, bạn đọc có thể tham khảo tài liệu tại Chuyên mục Ngữ văn lớp 12.

Tham vấn chuyên môn
Trần Xuân Đạo
GV
• Là cử nhân loại giỏi chuyên ngành sư phạm tiếng Anh, 8.0 IELTS (2) • 3 năm kinh nghiệm giảng dạy tại ZIM, 2 năm làm việc ở các vị trí nghiên cứu và phát triển học liệu, sự kiện tại trung tâm. • Triết lý giáo dục của tôi xoay quanh việc giúp học viên tìm thấy niềm vui trong học tập, xây dựng lớp học cởi mở, trao đổi tích cực giữa giáo viên, học viên với nhau, tạo môi trường thuận lợi cho việc dung nạp tri thức. "when the student is ready, the teacher will appear."

Nguồn tham khảo

Đánh giá

(0)

Gửi đánh giá

0

Bình luận - Hỏi đáp

Bạn cần để có thể bình luận và đánh giá.
Đang tải bình luận...