Cách chọn Main features trong IELTS Writing Task 1: Biểu đồ có yếu tố xu hướng

Bài viết giới thiệu về những cách lựa chọn main features trong IELTS Writing Task 1 đối với các biểu đồ xu hướng kèm bài tập tự luyện.
cach chon main features trong ielts writing task 1 bieu do co yeu to xu huong
Keytakeaways

Ba dạng số liệu quan trọng và nổi bật nên được chọn khi gặp biểu đồ có yếu tố xu hướng:

  • Điểm thời gian đầu tiên và cuối cùng.

  • Điểm cao nhất/thấp nhất/ có sự thay đổi mạnh về xu hướng ở giữa biểu đồ (Tùy chọn vào từng biểu đồ). Nếu các số liệu quá ổn định hoặc biến động rất bé, có thể gộp chung lại để miêu tả chung hoặc bỏ qua trong một số trường hợp.

IELTS Writing Task 1 và Main features trong IELTS Writing Task 1

IELTS Writing Task 1

IELTS Writing Task 1 là phần thi yêu cầu thí sinh viết bài báo cáo với độ dài tối thiểu 150 từ để miêu tả một hoặc nhiều biểu đồ cho trước.

Ví dụ đề thi:

You should spend about 20 minutes on this task.

The line graph illustrates the proportion of total expenditure in a certain European country between 1960 and 2000. Summarize the information by selecting and reporting the main features, and make comparisons where relevant.

Write at least 150 words.

The proportion of total expenditure in a certain European country between 1960 and 2000

  • Thời gian: 20 phút

  • Số từ tối thiểu: 150 từ

  • Cách tính điểm: chiếm 1/3 số điểm bài thi Writing.

Một số lưu ý chung khi viết Writing Task 1:

  • Đảm bảo viết được ít nhất 150 từ. Không có giới hạn tối đa về số từ, tuy nhiên không

    nên viết quá 200 từ (dài, tốn nhiều thời gian).

  • Không cho ý kiến cá nhân hoặc những thông tin không được đề cập đến trong biểu đồ

    vào bài viết.

  • Chỉ nên dành tối đa 20 phút cho phần Task 1. Thí sinh có 1 tiếng để hoàn thành cả 2

    phần Task 1 và Task 2 của phần thi Writing. Phần Task 1 chỉ chiếm 1/3 số điểm và cần tối

    thiểu 150 từ (so với số từ tối thiểu 250 và chiếm 2/3 số điểm của Task 2), vì vậy thời gian

    dành cho phần này chỉ nên giới hạn trong 20 phút.

  • Cần lựa chọn thông tin nổi bật, đáng chú ý để mô tả. Đây là một lưu ý quan trọng khi thực hiện viết Writing Task 1.

Main features trong IELTS Writing Task 1

Đề bài yêu cầu thí sinh “Summarise the information by selecting and reporting the main features” – tóm tắt thông tin bằng cách LỰA CHỌN, sau đó BÁO CÁO LẠI các thông tin chính (main features). Điều này đồng nghĩa với việc thí sinh trước hết cần biết cách lựa chọn các đặc điểm chính của biểu đồ chứ không phải liệt kê tất cả các thông tin được đề cập đến trong biểu đồ. Nắm được cách lựa chọn thông tin chính trong biểu đồ sẽ giúp thí sinh tiết kiệm thời gian suy nghĩ, cân nhắc trước khi viết bài cũng bước đầu hoàn thành được yêu cầu mà đề bài đưa ra.

Các dạng biểu đồ trong Writing Task 1

 Biểu đồ đường, biểu đồ cột, biểu đồ kết hợp

Biểu đồ trong, bảng, bản đồ, quy trình

Nhìn chung, có 7 dạng biểu đồ thường xuất hiện trong bài thi IELTS Writing Task 1, trong đó có 4 dạng (Đường, Cột, Tròn, Bảng) có đặc điểm chung: Đều chứa các số liệu. 4 dạng này lại được chia thành 2 nhóm có sự khác nhau về số lượng mốc thời gian, cụ thể:

  • Biểu đồ có số liệu và có ít nhất 2 mốc thời gian. Dạng biểu đồ này có thể được miêu tả bằng phương pháp xu hướng. Ta gọi dạng biểu đồ này là biểu đồ có yếu tố xu hướng.

  • Biểu đồ có số liệu được miêu tả tại ít hơn 1 mốc thời gian. Dạng biểu đồ này có thể được miêu tả bằng phương pháp so sánh. Ta gọi dạng biểu đồ này là biểu đồ có yếu tố so sánh.

Vì vậy, bên cạnh cách nghiên cứu Writing Task 1 lần lượt 7 dạng biểu đồ, ta còn có thể nhóm và phân chia như sau:

  • Biểu đồ có yếu tố xu hướng (Time chart)

  • Biểu đồ có yếu tố so sánh (Comparison chart)

  • Biểu đồ kết hợp (Mixed charts)

  • Bản đồ (Maps)

  • Quy trình (Process/Diagram)

Cách lựa chọn main features của những dạng biểu đồ này sẽ lần lượt được phân tích trong series Cách chọn main features trong IELTS Writing Task 1. Bài viết này sẽ tập trung đưa ra các phương pháp chọn main features trong IELTS Writing Task 1 - Dạng biểu đồ có yếu tố xu hướng.

Các chọn đúng main features trong Biểu đồ có yếu tố xu hướng

Lựa chọn main features trong biểu đồ xu hướng

Ba dạng số liệu quan trọng và nổi bật nên được chọn khi gặp biểu đồ có yếu tố xu hướng:

  • Điểm thời gian đầu tiên và cuối cùng.

  • Điểm cao nhất/thấp nhất/ có sự thay đổi mạnh về xu hướng ở giữa biểu đồ (Tùy chọn vào từng biểu đồ). Nếu các số liệu quá ổn định hoặc biến động rất bé, có thể gộp chung lại để miêu tả chung hoặc bỏ qua trong một số trường hợp.

Trong đó, dữ liệu điểm đầu và điểm cuối nên được lựa chọn để miêu tả ở tất cả các biểu đồ viết theo phương pháp xu hướng, bởi tương quan giữa 2 dữ liệu này thể hiện được xu hướng của đối tượng trên biểu đồ, cũng là đặc trưng của dạng bài này. Bên cạnh đó, đối với những dữ liệu nằm giữa biểu đồ, người học có thể linh hoạt lựa chọn giữa các điểm có số liệu cao nhất/ thấp nhất hoặc có sự biến động số liệu nổi bật nhất. Lưu ý, tùy vào số lượng dữ liệu có trong từng biểu đồ cũng như cách người học phân chưa dữ liệu vào 2 đoạn thân bài, người học có thể linh hoạt lựa chọn những số liệu nằm giữa và cân đối số lượng dữ liệu để miêu tả cho phù hợp với dung lượng.

Ví dụ

Lựa chọn main features với biểu đồ đường

The percentage of tourists to Scotland

Biểu đồ trên có thể tiến hành chia đoạn như sau:

Detail 1: Nhóm Miêu tả Castle và Zoo (cùng có xu hướng tăng).

Detail 2: Nhóm còn lại Aquarium và Festival (cùng có xu hướng giảm).

Lựa chọn main features trong mỗi đoạn:

Detail 1: Nhóm Miêu tả Castle và Zoo (cùng có xu hướng tăng).

  • Số liệu điểm đầu của cả 2 đối tượng: Năm 1980, lượng khách đến thăm Castle (nearly 25%), trong khi Zoo (~10%).

  • Các số liệu giữa:

    • Castle: : Lượng khách đên thăm Castle tăng mạnh để đạt đỉnh khoảng 45% năm 1995 trước khi giảm xuống còn 35% vào năm 2000.

    • Zoo: Dao động quanh 10-15%.

  • Số liệu điểm cuối: Trong khi lương khách đên Castle tiếp tục giảm nhẹ (xuống 33%), lượng khách đến zoo tăng (20%).

Detail 2: Nhóm còn lại Aquarium và Festival (cùng có xu hướng giảm).

  • Số liệu điểm đầu: Năm 1980, lượng khách đến thăm Festival là lớn nhất (30%), trong khi Aquarium (~20%).

  • Các số liệu giữa và cuối:

    • Aquarium: Đạt đỉnh khoảng 35% trước khi giảm về số liệu ban đầu. Tiếp tục giảm mạnh xuống dưới 10% vào năm cuối.

    • Festival: Giảm dần trong cả quá trình xuống còn dưới 20% vào năm cuối.

Từ đó, ta viết được 2 đoạn thân bài hoàn chỉnh:

In 1980, the percentage of tourists who chose to visit Castle was nearly 25%, which was significantly higher than the figure for Zoo, at only 10%. Over the following 20 years, the percentage of Castle visitors increased dramatically to reach a peak of about 45% in 1995, followed by a considerable drop to just over 30% in 2010. By contrast, despite some minor fluctuations around 10 to 15% during the first 20 years, the figure for Zoo then significantly increased to 20% in the last year.

Looking at the other attractions, Festival was the most attractive place in Scotland in 1980 with 30% of Scotland tourists choosing this, compared to 20% for Aquarium. Over the next 5 years, the percentage of travellers paying a visit to Aquarium reached a peak of nearly 35% in 1985 before decreasing back to 20% five years later. Since then, this figure continued to fall significantly to just under 10% in 2010. Meanwhile, the percentage of Festival visitors experienced a gradual decrease throughout the period, ending at roughly.

Đọc thêm: Cách chia đoạn thân bài IELTS Writing Task 1 dạng biểu đồ xu hướng.

Lựa chọn main features với biểu đồ cột

Một số biểu đồ có thể bao gồm nhiều thì động từ khác nhau, ví dụ: số liệu ở quá khứ và dự báo cho tương lai. Nếu chỉ đơn thuần chia theo các đối tượng (participants) thì người học sẽ phải xử lý hai thì động từ khác nhau (quá khứ - tương lai) trong cùng một đoạn.

Do đó, cách đơn giản để chia đoạn chính là các số liệu và xu hướng ở quá khứ sẽ được nhóm thành một đoạn; các số liệu và xu hướng ở tương lai sẽ được nhóm thành đoạn còn lại.

Ví dụ:

The bar chart shows the percentage of the total world population in 4 countries in 1950 and 2003, and projections for 2050.

Summarize the information by selecting and reporting the main features, and make comparisons where relevant.

The percentage of the total world population in 4 countries in 1950 and 2003, and projections for 2050.

Biểu đồ trên có thể tiến hành chia đoạn như sau:

Detail 1: Mô tả & so sánh tỉ lệ phần trăm dân số của 4 quốc gia trong tháng đầu tiên & xu hướng đến năm 2002.

Detail 2: Mô tả số liệu & so sánh xu hướng trong thời gian khảo sát còn lại.

Lựa chọn main features trong mỗi đoạn:

Detail 1: Mô tả & so sánh tỉ lệ phần trăm dân số của 4 quốc gia trong tháng đầu tiên & xu hướng đến năm 2002.

  • Số liệu điểm đầu: China 23%, India 15%, USA 7% và Japan 12%.

  • Số liệu điểm cuối: India tăng nhẹ thêm khoảng 2%, 3 nước China, USA và Japan giảm lần lượt giảm tới 20%, 5% và 3%.

Detail 2: Mô tả số liệu & so sánh xu hướng trong thời gian khảo sát còn lại (2002-2050).

  • Số liệu điểm cuối: India được dự đoán tăng tới 20%, USA không thay đổi ở mức 5% trong khi China và Japan giảm lần lượt tới 15% và 2%. (Không cần thiết nhắc lại số liệu ở năm đầu 2002).

Từ đó, ta viết được 2 đoạn thân bài hoàn chỉnh:

In 1950, China was the most populous nation with the figure registering around 23%, while the Indian population accounted for 15% of world population. In contrast, about 7% of people in the world were from the USA, compared to only less than 5% from Japan. In 2002, the rate of the Indian population rose slowly by roughly 2%, while China, the US and Japan all saw declines to 20%, 5% and 3% respectively in their figures.

In 2050, India is predicted to have the largest population as illustrated by an increase to nearly 20%. By contrast, the proportions of population in China and Japan are projected to decrease to 15% and about 2% respectively. Meanwhile, the figure for the USA is likely to remain the same, at 5%.

Đọc thêm: Phân tích về Xu hướng và Sự khác biệt và cách ứng dụng cho các biểu đồ trong Writing Task 1.

Lựa chọn main features với biểu đồ tròn

The pie charts give information about visitors to the US from different countries from 1988 to 1992.

Summarize the information by selecting and reporting the main features, and make comparisons where relevant.

Visitors to the US from different countries from 1988 to 1992

Biểu đồ trên có thể tiến hành chia đoạn như sau:

Detail 1: So sánh các đối tượng ở năm đầu – năm giữa (từ 1988 – 1990).

Detail 2: So sánh các đối tượng từ năm giữa – năm cuối (1990- 1992).

Lựa chọn main features trong mỗi đoạn:

Detail 1: So sánh các đối tượng ở năm đầu – năm giữa (từ 1988 – 1990).

  • Số liệu điểm đầu: Năm 1988: Hơn 1 nửa khách du lịch đến US là đến từ Canada, trong khi đó tỉ lệ khách đến từ Mexico chỉ là ¼. Số liệu cho China và other countries ở mức thấp (10% và 12%).

  • Số liệu điểm cuối: Tỉ lệ khách du lịch từ China tăng mạnh (thêm 18%), ngược lại, số liệu cho 3 nước còn lại giảm, với sự giảm lớn nhất là ở Canada (giảm đi 10%).

Detail 2: So sánh các đối tượng từ năm giữa – năm cuối (1990- 1992).

  • Số liệu điểm đầu: Canada 43%, Mexico 20%, China 9%, Others 28%. (Số liệu đầu lúc này là số liệu của năm giữa - năm 1990).

  • Số liệu điểm cuối: Tỉ lệ du khách từ Canada tiếp tục giảm xuống 4% và số liệu cho other countries cũng giảm xuống 4%. Ngược lại, tỉ lệ du khách từ China tăng lên mức cao nhất là 30% và số liệu cho Mexico quay trở lại mức hơn ¼ vào năm cuối cùng.

Từ đó, ta viết được 2 đoạn thân bài hoàn chỉnh:

In 1988, over half of the visitors to the US were from Canada, while people from Mexico accounted for exactly a quarter. The figures for China and other countries were low, at 10% and 12% respectively. Over the next two years, there was a significant rise of 18% in the percentage of Chinese visitors. In contrast, the figures for the other nations fell, most significantly in Canada (by 10%).

From 1990 to 1992, the proportion of tourists from Canada and other countries continued to fall by 4% each. However, the percentage of Chinese visitors peaked at 30%, while that of Mexicans rose back to a quarter in the last year.

Lựa chọn main features với dạng bảng

The table below shows percentage of students giving good ratings for different aspects of a university in China in 2000, 2005, 2010.

Summarize the information by selecting and reporting the main features, and make comparisons where relevant.

Percentage of students giving good ratings for different aspects of a university in China in 2000, 2005, 2010

Biểu đồ trên có thể tiến hành chia đoạn như sau:

Detail 1: Nhóm thông tin miêu tả Technical Quality, Print Resources, Electronic Resources (Ba đối tượng có số liệu lớn).

Detail 2: Nhóm còn lại Range of modules offered (giảm) và Bulding/teaching facilities (Ba đối tượng có số liệu bé).

Lựa chọn main features trong mỗi đoạn:

Detail 1: Nhóm thông tin miêu tả Technical Quality, Print Resources, Electronic Resources (Ba đối tượng có số liệu lớn).

  • Số liệu điểm đầu: Năm 2010, phần lớn học sinh vote cho Print Resources với 87%, so sánh với 63% vote cho Technical Quality và 45% vote cho Electronic Resources.

  • Các số liệu giữa và số liệu điểm cuối.

    • Phần trăm học sinh vote cho Technical quality không thay đổi sau 5 năm, trước khi tăng lên 69% vào năm 2010.

    • Phần trăm học sinh vote cho Electronic Resources tăng gần gấp đôi sau 10 năm (89%).

    • Gần như tất cả vote cho Print Resources năm 2005, trước khi giảm nhẹ xuống 91% vào năm 2010

Detail 2: Nhóm còn lại Range of modules offered (giảm) và Bulding/teaching facilities (Ba đối tượng có số liệu bé).

  • Số liệu điểm đầu: Năm 2000, số lượng học sinh được hỏi vote cho Range of modules offered là thấp nhất, 33%. Số lượng học sinh chọn Building/ Teaching Facilities là 75%.

  • Các số liệu giữa và cuối: Số lượng học sinh được hỏi vote cho Range of modules offered giảm đều xuống còn 26% vào năm 2010, trong khi đó, số lượng học sinh chọn Building/ Teaching Facilities vẫn không thay đổi sau cả 3 năm, với 3 phần 4 số lượng học sinh được hỏi chọn.

Từ đó, ta viết được 2 đoạn thân bài hoàn chỉnh:

As can be seen from the table, in 2000, the vast majority of students selected Print Resources, at 87%, compared with 63% and 45% of survey respondents to Technical Quality and Electronic Resources respectively. From 2000 to 2010, the percentage of students choosing Technical quality remained unchanged in the first 5 years, before rising to 69% in 2010. Likewise, the figure for Electronic Resources was almost double after 10 years, at 89% in 2010, while the figure for Print Resources was still higher than any other aspects, at 91% in 2010.

Out of the other aspects, starting at 33% in 2000, the percentage of students choosing Range of modules decreased gradually to just over a quarter of the preferences. Of equal note is that the figure for Building/ Teaching facilities was similar throughout the period, accounting for 77% of participants to the survey selecting.

Luyện tập

The graph below shows consumers' average annual expenditure on cell phone, national and international fixed-line and services in America between 2001 and 2010.

Summarize the information by selecting and reporting the main features, and make comparisons where relevant.

Consumers' average annual expenditure on cell phone, national and international fixed-line and services in America between 2001 and 2010

Luyện tập 1: Hoàn thành các thông tin vào gợi ý phân tích đề sau:

Phân tích đề

  • Đối tượng (chủ ngữ) của biểu đồ là gì? _______________________________

  • Đơn vị là gì? ________________________________________________________

  • Có mốc hay khoảng thời gian không? Thì của động từ? ______________

Introduction

  • Paraphrase đề bài: __________________________________________________

Overview

  • Đặc điểm về xu hướng: ______________________________________________

  • Đặc điểm về độ lớn: _________________________________________________

Nhóm thông tin vào 2 đoạn Detail

Detail 1: _________________________________________________________________

Detail 2: _________________________________________________________________

Lựa chọn main features cho đừng đoạn Detail

Detail 1: _________________________________________________________________

Detail 2: _________________________________________________________________

Luyện tập 2: Viết bài hoàn chỉnh cho đề bài trên.

Suggested answer

Luyện tập 1:

Phân tích đề

  • Đối tượng (chủ ngữ) của biểu đồ là gì?

→ The amount of money spent on cell phone services/ national fixed-line services/ international fixed-line services.

  • Đơn vị là gì?

→ Đơn vị được tính bằng $ - dollar.

  • Có mốc hay khoảng thời gian không? Thì của động từ?

→ Khoảng thời gian trong 9 năm bắt đầu từ năm 2001. Vậy nên chúng ta sẽ dùng thì “quá khứ đơn” xuyên suốt cả bài.

Introduction

  • Paraphrase đề bài:

→ The line graph illustrates the average amount of money spent yearly on mobile phones, national and international landline phones in the US over a period of 9 years.

Overview

  • Đặc điểm về xu hướng:

→ Một đường có xu hướng tăng (cell phone services), một đường có xu hướng giảm (national fixed-line services), một đường gần như giữ nguyên trong cả giai đoạn (international fixed-line services).

  • Đặc điểm về độ lớn:

→ Không có đường nào nằm cao nhất hoặc thấp nhất trong suốt quá trình, tuy nhiên có thể thấy đường international fix-lined services ở vị trí thấp nhất trong hầu hết các năm.

Nhóm thông tin vào 2 đoạn Detail

Detail 1: So sánh các đường ở điểm đầu, xu hướng cho đến điểm giữa (2001-2006).

Detail 2: Xu hướng từ điểm giữa đến điểm cuối, so sánh điểm cuối (năm 2006 – hết).

Lựa chọn main features cho đừng đoạn Detail

  • Detail 1: So sánh các đường ở điểm đầu, xu hướng cho đến điểm giữa (2001-2006).

    • Số liệu năm đầu: Năm 2001, số tiền lớn nhất là chi cho national fixed-line services khoảng $700, trong khi con số đó ở international fixed-line services chỉ là $250 và cell phone services chỉ $200.

    • Số liệu các năm giữa và năm cuối: Chi tiêu trung bình hàng năm của national fixed-line services giảm đi khoảng $200, ngược lại chi tiêu cho cell phones tăng thêm khoảng $300. Chi tiêu cho International fixedline services dao động trong khoảng dưới $300. (Những năm 2002, 2003, 2004 số liệu không có gì nổi bật, nên chỉ cần nói luôn xu hướng cho đến năm 2006.)

  • Detail 2: Xu hướng từ điểm giữa đến điểm cuối, so sánh điểm cuối (năm 2006 – hết)

    • Số liệu năm đầu (năm 2006): Số liệu cho national fixed-line và cell phone services bằng nhau ở mức $500.

    • Số liệu các năm giữa và cuối (2006-2010): Cell phone services tiếp tục tăng và đạt gần $750, trong khi national fixed-line services giảm xuống còn khoảng $400. Chi tiêu cho international fixed-line services giữ nguyên trong giai đoạn này. (Tương tự những năm 2007, 2008, 2009 số liệu không có gì nổi bật, nên chỉ cần nói luôn xu hướng cho đến năm cuối cùng, thường sẽ có so sánh ở số liệu năm cuối cùng.)

Luyện tập 2:

(Tham khảo)

The line graph illustrates the average amount of money spent yearly on mobile phones, national and international landline phones in the US over a period of 9 years.

It is clear that while the yearly spending on mobile phones increased significantly, the opposite was true for national landline phone expenditure. Also, the figure for international fixed-line service was lowest during the period.

In 2001, there was an average of nearly $700 spent on national landline phones by US residents, in comparison with only around $200 each on mobile phones and international landline services. Over the next five years, the average amount poured into national fixed-line phones fell by approximately $200. By constrast, yearly spending on cell phones witnessed a significant increase of roughly $300. At the same time, the figure for overseas landline services fluctuated slightly below $300.

In 2006, US consumers spent the same amount of money on mobile and national fixed-line services, with just over $500 on each. From the year 2006 onwards, it can be seen that the average yearly expenditure on mobile phones surpassed that on national fixed-line phones and mobile phones became the most common means of communication. To be specific, yearly spending on mobile phone services increased to nearly $750 in the last year, while the figure for national landline phone ones decreased to about $400 at the end of the period. During the same period, there was a stability in the figure for overseas phone calls.

Tổng kết

Một biểu đồ xu hướng có thể có nhiều cách tiếp cận, chia đoạn cũng như lựa chọn main features linh hoạt dựa vào đặc điểm của từng bài. Điều quan trọng là người học cần phân chia và lựa chọn main features sao cho đảm bảo tính cân đối giữa các đoạn thân bài với dung lượng toàn bài trong thời gian cho phép cũng như không bỏ qua các đặc điểm đáng chú ý.

Đọc thêm:


Tham khảo

ZIM ACADEMY. IELTS REVIEW 2018. 1st ed., 2018.

ZIM ACADEMY. COMPLETE WRITING. 2nd ed.

Trần Xuân Đạo

Đã kiểm duyệt nội dung
Là cử nhân loại giỏi chuyên ngành sư phạm tiếng Anh, điểm IELTS 8.0 ở cả hai lần thi, tôi hiện là giảng viên IELTS toàn thời gian tại ZIM Academy. Triết lý giáo dục của tôi là ai cũng có thể học tiếng Anh, chỉ cần cố gắng và có phương pháp học tập phù hợp. Tôi từng được đánh giá là "mất gốc" tiếng Anh ngày còn đi học phổ thông. Tuy nhiên, khi được tiếp cận với nhiều phương pháp giáo dục khác nhau và chọn được cách học phù hợp, tôi dần trở nên yêu thích tiếng Anh và từ đó dần cải thiện khả năng ngôn ngữ của mình. Tôi hy vọng rằng, hành trình này của tôi sẽ giúp người học có thêm nhiều động lực học tập.

Bạn muốn học thêm về nội dung này?

Đặt lịch học 1-1 với Giảng viên tại ZIM để được học sâu hơn về nội dung của bài viết bạn đang đọc. Thời gian linh hoạt và học phí theo buổi

Đánh giá

5.0 / 5 (1 đánh giá)

Gửi đánh giá

0

Bình luận - Hỏi đáp

Bạn cần để có thể bình luận và đánh giá.
Đang tải bình luận...
Tư vấn nhanh
Chat tư vấn
Chat Messenger
1900 2833