Làm thế nào để cải thiện tính súc tích (conciseness) trong IELTS Writing?

Phân tích tính súc tích là gì, các lỗi ảnh hưởng đến tính súc tích và đưa ra giải pháp cho người học để cải thiện tính súc tích trong writing.
Published on
lam-the-nao-de-cai-thien-tinh-suc-tich-conciseness-trong-ielts-writing

William Strunk đã từng nói: “Một bài viết giống như một bức tranh mà trong đó không nên có nét vẽ thừa nào.” Từ đó, ông đề cập đến tầm quan trọng của yếu tố conciseness (tính súc tích) trong văn viết. Cụ thể, một người viết súc tích hơn sẽ tiết kiệm được số từ và thời gian hơn nhưng vẫn truyền đạt được đầy đủ ý như những người viết khác. Bài viết dưới đây sẽ phân tích tính súc tích là gì, các lỗi ảnh hưởng đến tính súc tích và đưa ra giải pháp cho người học để cải thiện tính súc tích trong Writing. 

Đọc thêm: IELTS Writing là gì? IELTS Writing Band description, phân loại và những lưu ý cần thiết

Tổng quan về Tính súc tích

Tính súc tích là gì?

Theo từ điển Oxford, Conciseness (Tính súc tích) là “chỉ đưa ra những thông tin cần thiết và quan trọng bằng cách sử dụng ít từ.”

Theo STEM Style Guide của Đại học Oxford, lối viết súc tích (writing concisely) là cách chọn từ có mục đích và chính xác, cách viết câu văn để tránh được những thông tin thừa và cách dùng ngữ pháp chính xác. 

Suy ra, conciseness (tính súc tích) có thể được hiểu đơn giản là việc thể hiện ý tưởng trọn vẹn nhất bằng cách chọn từ và viết câu một cách ngắn gọn. 

Tầm quan trọng của tính súc tích trong writing

“... Một câu văn không nên có những từ thừa, một đoạn văn không nên có những câu văn thừa...điều này không yêu cầu người viết phải viết các câu văn một cách ngắn gọn, bỏ đi những tiểu tiết hay chỉ viết dàn ý mà phải viết sao cho mỗi từ đều thể hiện trọn vẹn ý nghĩa.”

(William Strunk)

Theo STEM Style Guide của Đại học Oxford, tính súc tích đóng một vai trò trong việc truyền đạt thông điệp. Để có thể truyền đạt tốt thông điệp, người viết cần phải khiến cho người đọc chú ý, đọc hiểu được văn bản mà không tốn quá nhiều công sức. Tuy nhiên, nếu bài viết khó để theo dõi, người đọc dễ mất cảm hứng (và kiên nhẫn). Vì vậy, người viết cần đảm bảo được tính súc tích cho bài viết thêm rõ ràng và trực tiếp, thu hút sự chú ý của người đọc vào thông điệp.

Các lỗi ảnh hưởng đến tính tính súc tích trong writing

Cơ sở phân chia các lỗi ảnh hưởng đến tính súc tích trong writing

Alley (1996) đã phân chia các lỗi ảnh hưởng đến tính súc tích trong writing dựa trên 4 cấp độ: từ, cụm từ, câu và bài văn. 

Cụ thể các lỗi bao gồm:

  1. Lỗi redundancies (lỗi thừa từ)

  2. Lỗi writing zeroes (lỗi viết những cụm từ vô nghĩa)

  3. Lỗi reducing sentences (lỗi không lược câu về dạng đơn giản nhất)

  4. Lỗi bureaucratic waste (lỗi không loại bỏ những đoạn văn thừa)

Ở mục tiếp theo, người viết sẽ giải thích rõ từng lỗi bao gồm định nghĩa và biểu hiện của các lỗi trong bài writing. 

Các lỗi ảnh hưởng đến tính súc tích trong writing và biểu hiện

Lỗi redundancies (lỗi thừa từ)

Lỗi thừa từ là lỗi do lặp lại một cách không cần thiết các từ trong một câu. Lỗi này có thể gây ra lặp ý hoặc không làm rõ được ý. 

Lỗi thừa từ bao gồm:

Ví dụ: It is likely that vaccination can stop the increasing widespread of corona viruses. 

tinh-suc-tich-trong-writing-corona-viruses

-> “widespread” là “sự lây lan” nên bản thân nó đã bao gồm cả “sự gia tăng”, việc dùng “increasing” đằng trước “widespread” là thừa.  

  • Dùng thừa từ còn có thể gây khó hiểu về ý. 

Ví dụ: The rise in CO2 levels are increasing at an extremely alarming rate. 

-> rise và increase đều mang nghĩa tăng. Việc dùng lặp từ ở đây khiến cho ý trong câu trở nên mơ hồ: “Sự tăng lượng CO2 đang tăng…”

Lỗi writing zeroes (lỗi viết những cụm từ vô nghĩa)

Lỗi writing zeroes là lỗi bài viết chứa những cụm từ vô nghĩa, không cung cấp thông tin cho người đọc. Nếu một cụm từ không mang ý nghĩa, người viết không nên đưa vào trong bài viết. Ngược lại, nếu một cụm từ mang ý nghĩa quan trọng, người viết nên tìm cách làm nổi bật cụm từ đó. Đôi lúc, các cụm từ vô nghĩa sẽ gây ra sự khó hiểu về ý. 

  • Các cụm từ không chứa thông tin dẫn đến hiện tượng lặp từ cùng nghĩa. 

Ví dụ: Many skills are taught in the course of English for Career Development. 

-> cụm từ “in the course" ở câu trên đồng nghĩa với English for Career Development vì bản thân English for Career Development đã là tên một khóa học. 

  • Các cụm từ không chứa thông tin gây khó hiểu về ý.

Ví dụ: The requirements to be met for matriculation (việc xét tuyển đại học) were listed on the website of Ministry of Education and Training (Bộ Giáo dục và Đào tạo).

-> cụm từ “to be met" sẽ dẫn đến câu hỏi liệu có những điều kiện không được đáp ứng. Trong khi câu trên nói về những yêu cầu bắt buộc phải có để xét tuyển đại học, không có lựa chọn đáp ứng hoặc không đáp ứng. 

Lỗi reducing sentences (lỗi không lược câu về dạng đơn giản nhất)

Lỗi reducing sentences xảy ra khi người viết không lược câu về dạng đơn giản nhất. Lược câu về dạng đơn giản nhất ở đây không có nghĩa chỉ dùng câu đơn mà là chỉ viết câu bằng những từ cần thiết nhất dù viết câu đơn, phức hay ghép. 

Ví dụ: New vaccine depends very heavily on an extremely full understanding of the viruses. 

-> trạng từ very, heavily, và extremely trong câu trên đang bị thừa vì depend đã mang nghĩa được quyết định bởi một điều gì đó nên những trạng từ như very và heavily không cần thiết. Bên cạnh đó, tính từ full là một tính từ tuyệt đối (absolute adjective) nên không đi kèm một trạng từ như extremely để thể hiện mức độ. 

  • Dùng quá nhiều danh từ chỉ hành động trong câu.

Ví dụ: Technological development has facilitated the production of autonomous cars with widespread adoption of customers. 

-> các từ development, establishment và adoption là những danh từ chỉ hành động, hay nói cách khác những danh từ này có gốc là động từ. Việc sử dụng danh từ chỉ hành động thay cho động từ sẽ dẫn đến việc người viết dễ dùng thêm các tính từ đi kèm, và đôi khi những tính từ đó không thật sự cần thiết. 

Thay vào đó, câu trên nên được viết thành: “Technology development helps autonomous cars to be produced and adopted by many customers. 

  • Dùng thừa dạng bị động trong câu

Ví dụ: It was claimed that COVID19 will be prevented by a new vaccine, which will be developed in 2022.

-> câu trên có tất cả 3 động từ được để ở dạng bị động. Tuy nhiên, trọng tâm của câu nằm ở a new vaccine (một loại vắc-xin mới) nên việc dùng câu bị động sẽ không hợp lý. Bên cạnh đó, cả 2 động từ bị động “will be prevented" và “will be developed” đều liên quan đến vaccine nên người viết có dùng “vaccine” làm chủ ngữ. 

Câu trên nên được sửa thành: “A new vaccine in 2022 is claimed to prevent the COVID19”. 

 Lỗi bureaucratic waste (lỗi không lược bỏ câu và đoạn văn thừa)

Lỗi bureaucratic waste là lỗi viết những câu và đoạn văn thừa, không phục vụ mục đích làm rõ từ khóa và luận điểm hoặc không liên quan đến chủ đề. 

Ví dụ: One advantage of double-income families is financial stability. That is to say, the incomes of the family will be doubled since both wife and husband earn money. For example, many double-income families in Vietnam do not have to worry about their finances. As a result, the couples can avoid arguments on money-related matters such as who will pay for electric and water bills. 

tinh-suc-tich-trong-writing-bills

-> Trong đoạn trên, phần “that is to say,...finances” đều trùng ý với luận điểm (câu số 1). Cả 3 câu đều nói về việc có gấp đôi thu nhập sẽ giúp tài chính trong gia đình ổn định hơn. 

Nên viết lại như sau: “One advantage of double-income families is financial stability. When both wife and husband earn money, they can avoid arguments on money-related matters such as who will pay for the electric and water bills”.

Các cách cải thiện tính súc tích trong writing

Từ những lỗi ảnh hưởng đến tính súc tích đã được nêu trên, người viết có thể suy ra bốn cách cải thiện tính súc tích theo từng cấp độ:

Lược bỏ những từ bị thừa

Sau khi viết, người viết nên đọc kĩ lại bài của mình để kiểm tra và lược bỏ những từ bị thừa (lặp về nghĩa). Một số từ được cho là thừa khi đi với nhau mà người viết có thể tham khảo bao gồm (từ trong ngoặc nên được lược bỏ): 

  1. (already) existing 

  2. (alternative) choices 

  3. at (the) present (time) 

  4. (basic) fundamentals

  5. (completely) eliminate 

  6. (continue to) remain 

  7. (currently) being

  8. (currently) underway

  9. (empty) space

  10. had done (previously)

  11. introduced (a new)

  12. mix (together)

  13. never (before) none (at all)

  14. now (at this time)

  15. period (of time)

  16. (private) industry 

  17. (separate) entities

  18. start (out)

  19. (still) persists

(Alley, 1996)

Lược bỏ những cụm từ vô nghĩa

Sau khi lược bỏ những từ thừa hoặc trùng lặp, người viết cần xét đến yếu tố cụm từ và lược bỏ đi những cụm từ vô nghĩa (không chứa thông tin cho người đọc). Một số cụm từ có thể được kể đến bao gồm:

  1. as a matter of fact

  2. I might add that

  3. it is noteworthy that 

  4. it is significant that

  5. it should be pointed out that

  6. the fact that

  7. the presence of

Nếu thông tin đưa ra không đặc biệt hoặc quan trọng thì người viết không nên dùng những cụm từ trên. 

Lược câu văn về dạng đơn giản nhất

Như đã nói ở trên, lược câu văn về dạng đơn giản nhất không có nghĩa là chỉ viết câu đơn mà người viết cần chọn những từ cần thiết nhất để tạo nên câu, dù là câu đơn, phức hay ghép. Để chọn được những từ cần thiết nhất, người viết cần:

Thay những cụm từ dài bằng từ ngắn hơn, ví dụ: 

  1. at this point in time: now

  2. at that point in time: then 

  3. has the ability to: can

  4. has the potential to: can

  5. in light of the fact that: because

  6. in the event that: if

  7. in the vicinity of: near 

  8. owing to the fact that: because 

  9. the question as to whether: whether 

  10. there is no doubt but that: nodoubt

Lược bỏ đi những trạng từ đi kèm tính từ tuyệt đối (absolute adjective) 

Thay danh từ chỉ hành động bằng động từ.

Chuyển từ bị động sang chủ động nếu đối tượng chịu tác động không đóng vai trò quan trọng. 

Lược bỏ đi những câu và đoạn văn thừa hoặc không liên quan.

Cuối cùng, người viết nên đọc lại đoạn văn, chú ý đến những câu hoặc đoạn văn lặp ý hoặc không liên quan đến luận điểm và chủ đề. Một phương pháp giúp người viết có thể kiểm tra tiêu chí này là gạch những từ khóa của luận điểm. Sau đó, người viết sẽ kiểm tra những câu văn hoặc đoạn văn có phát triển thêm cho những từ khóa đó không. Nếu câu và đoạn không phát triển gì thêm cho từ khóa hoặc nói về ý không xoay quanh từ khóa, người viết nên lược bỏ. 

Ứng dụng tăng tính xúc tích trong writing thông qua phương pháp đọc báo

Phương pháp đọc báo

Phương pháp đọc báo là gì

Phương pháp đọc báo là phương pháp tích lũy kiến thức, cụ thể ở đây là học cách viết súc tích từ những tờ báo ngôn ngữ nước ngoài (Tiếng Anh). 

Tại sao phương pháp đọc báo giúp cải thiện tính xúc tích trong writing

2 lý do khiến đọc báo sẽ giúp người viết học được cách viết súc tích:

  1. Các tờ báo chính thống thường được viết bởi những nhà báo bản xứ, những người được đào tạo về phong cách viết nên sẽ có lối hành văn súc tích hơn.

  2. Người viết có thể đọc về nhiều chủ đề, từ đó tích lũy vốn từ và kiến thức. 

Những điểm cần lưu ý (nhược điểm) khi áp dụng phương pháp này

  1. Người viết cần chọn lọc nguồn báo. Cụ thể, người viết nên chọn những nguồn báo uy tín, có văn phong formal, và bài viết này sẽ trích dẫn bài báo từ The Guardian. 

  2. Các bài báo có thể có chất lượng bài viết không đồng đều do được những nhà báo khác nhau viết. 

Các bước đọc báo tăng tính xúc tích trong writing

Dựa theo những lỗi và cách xử lý tính súc tích ở bốn cấp độ, người viết có thể phân tích bài báo theo 4 cấp độ:

Bước 1: Đọc và lấy ý chính của bài báo, sau đó tóm tắt ngắn gọn ý chính các đoạn văn và cách phát triển ý của đoạn văn. Kiểm tra cách người viết phát triển ý có đúng trọng tâm hay không.

Bước 2: Đọc kỹ từng câu, xác định loại câu và kiểm tra những lỗi súc tích câu như cụm từ thừa, quá nhiều trạng từ, danh từ chỉ hành động hoặc bị động không cần thiết. 

Bước 3: Đọc kỹ từng cụm từ trong câu, kiểm tra nếu có những cụm từ vô nghĩa. 

Bước 4: Đọc kỹ các từ, kiểm tra nếu có những từ thừa. 

Mẫu ứng dụng phương pháp đọc báo tăng tính xúc tích trong writing. 

Người viết sẽ phân tích mẫu theo 4 bước trên với đoạn văn dưới đây. 

(Trích bài báo “The Guardian view on the Tokyo Olympics: in Japan, but not for Japan” của tờ báo The Guardian)

“After a year and a half of the pandemic, the world is short of causes for celebration. Diversion, spectacle and surprise may never have been more welcome. At a time of growing divisions between and within countries, shared interests and endeavours are welcome. Despite their muted atmosphere, the Olympics and Paralympics are likely to raise spirits internationally, with viewers cheering on extraordinary feats of human achievement.”

Bước 1: Đọc và lấy ý chính của bài báo, sau đó tóm tắt ngắn gọn ý chính các đoạn văn và cách phát triển ý của đoạn văn. Kiểm tra cách người viết phát triển ý có đúng trọng tâm hay không.

Ví dụ: 

Đoạn văn trên được triển khai gồm những ý sau:

  1. Câu 1: Sau 1 năm rưỡi ảnh hưởng bởi dịch, thế giới có ít lý do để ăn mừng.

  2. Câu 2: Vì thế, những sự kiện giúp thư giãn, đẹp mắt hoặc gây bất ngờ được mong đợi hơn.

  3. Câu 3: Trong thời kỳ mà các quốc gia ngày càng bị chia rẽ, những lợi ích và nỗ lực chung ngày càng được hoan nghênh. 

  4. Câu 4: Dù cho được diễn ra trong không khí yên lặng, Thế vận hội Olympic và Paralympic vẫn có khả năng nâng cao tinh thần quốc tế. 

Khi xét cách phát triển cách phát triển ý của đoạn văn trên, ta có thể thấy tác giả đưa ra bối cảnh (câu 1), sau đó đến nguyên nhân chung (câu 2), ví dụ cụ thể hơn (câu 3) rồi mới đến ý chính: thế vận hội Olympic được chào đón nồng nhiệt. 

Qua đó, ta thấy tác giả có sự phát triển ý sao cho ý sau chi tiết và cụ thể nhưng vẫn liên quan đến ý trước bằng cách giải thích rõ hơn những từ khóa ở câu trước. Cụ thể, câu 2 giải thích cho celebrations (ăn mừng), câu 3 giải quyết cho các sự kiện cụ thể nào dễ được chào đón và câu 4 là một ví dụ cụ thể của một sự kiện như vậy. 

Bước 2: Đọc kỹ từng câu, xác định loại câu và kiểm tra những lỗi súc tích câu như cụm từ thừa, quá nhiều trạng từ, danh từ chỉ hành động hoặc bị động không cần thiết. 

Ví dụ: After a year and a half of the pandemic, the world is short of causes for celebration.

Câu văn trên được viết súc tích do các từ đều cần thiết và được sử dụng ở dạng ngắn gọn nhất. 

Câu văn trên sẽ mắc lỗi súc tích ở cấp độ câu nếu được viết: “After a year and a half of the pandemic, the world does not have a lot of causes for celebration.” Thay vào đó, dùng cụm từ “be short of" sẽ rút ngắn được số từ. 

Bước 3: Đọc kỹ từng cụm từ trong câu, kiểm tra nếu có những cụm từ vô nghĩa. 

Ví dụ: Diversion, spectacle and surprise may never have been more welcome. 

Câu văn trên đảm bảo được tính súc tích do tất cả các từ trong câu đều quan trọng, không thể bỏ đi từ nào. 

Câu văn sẽ phạm lỗi súc tích ở cấp độ cụm từ nếu được viết: “It is significant that diversion, spectacle and surprise may never have been more welcome.” vì đây là một hệ quả tự nhiên, không phải là một phát hiện gì quan trọng. 

Bước 4: Đọc kỹ các từ, kiểm tra nếu có những từ thừa. 

Ví dụ: các từ “raise spirits internationally” đã đảm bảo được tính súc tích do không có từ nào trùng nghĩa với nhau. 

Ngược lại, nếu tác giả viết “raise the tremendous spirits internationally” thì sẽ làm giảm tính súc tích do từ tremendous có thể hiểu là rộng rãi, đồng nghĩa với khắp thế giới. 

Tổng kết

Qua bài viết trên, người viết đã cung cấp định nghĩa, tầm quan trọng của tính súc tích trong writing, nêu ra những lỗi, biểu hiện và cách xử lý các lỗi ảnh hưởng đến tính súc tích ở cấp độ từ, cụm từ, câu và đoạn văn. Qua đó, người viết cũng giới thiệu cho người học phương pháp đọc báo để tăng tính súc tích cho writing và hy vọng người học có thể áp dụng phương pháp trên một cách hiệu quả. 

Hồ Thị Minh Anh

Đánh giá:

(0 Đánh giá)

Chia sẻ:

Bình luận

Bạn cần để có thể bình luận và đánh giá.
Đang tải bình luận...

Bài viết cùng chủ đề