Giới thiệu các âm sau lợi (Postalveolar) /tʃ/ và /dʒ/ trong bảng phiên âm IPA

Bài viết giới thiệu hai phụ âm sau lợi tiếp theo là /tʃ/ và /dʒ/
Published on
gioi-thieu-cac-am-sau-loi-postalveolar-t-va-d-trong-bang-phien-am-ipa

Trong bài thi Speaking, tiêu chí Phát âm có thể là một chướng ngại vật lớn đối với thí sinh Việt Nam. Nhiều thí sinh luyện tập thường xuyên vẫn không thể cải thiện được phát âm một cách hoàn chỉnh và chính xác. Một lý do cho việc này nằm ở sự khác biệt giữa các âm trong hai hệ thống âm của hai thứ tiếng, từ đó dẫn đến việc có những cách phát âm còn giống tiếng Việt, chưa đúng phương cách của tiếng Anh. Một cách để giúp tiếp cận phát âm tiếng Anh chính xác hơn là thông qua việc học bảng Phiên âm Quốc tế (IPA - International Phonetics Alphabet), do đây là một bảng tổng hợp tất cả các âm được sử dụng trong tiếng Anh. Có nhiều thí sinh được giới thiệu qua bảng sau nhưng lại chưa biết cách học đúng. Vì thế, chuỗi bài viết sau hướng đến việc giới thiệu về các nhóm âm trong bảng IPA, về cách tạo âm đúng cũng như những sự khác biệt với các âm trong tiếng Việt. Những bài viết trước đã giới thiệu về các âm ở bốn cột đầu tiên trong bảng IPA. Đến với bài viết này, thí sinh sẽ được giới thiệu về hai âm sau lợi tiếp theo (/tʃ/ và /dʒ/) trong cột thứ năm, cột âm sau lợi (postalveolars).

Key takeaways:

  1. Phụ âm sau lợi là phụ âm được tạo ra bằng sự tiếp xúc của phần thân lưỡi và vùng vòm miệng sau lợi

  2. Âm /tʃ/ là âm sau lợi được tạo ra mà không có sự rung động của dây thanh quản

  3. Âm /dʒ/ là âm sau lợi được tạo ra với sự rung động của dây thanh quản

  4. Phụ âm xuýt (bao gồm 6 âm /s/, /z/, /ʃ/, /ʒ/, /tʃ/ và /dʒ/) khi thêm hậu tố -s vào, hậu tố sẽ được phát âm là /iz/

Khái niệm phụ âm và phụ âm sau lợi

Trong ngữ âm học, phụ âm là những âm mà khi phát ra, thanh quản sẽ đóng lại một phần hoặc đóng lại hoàn toàn, từ đó luồng hơi phát ra sẽ bị cản trở một phần hoặc hoàn toàn. Trong tiếng Anh hiện nay, hầu hết các nhà ngôn ngữ học ghi nhận 24 âm phụ âm và thành lập nên bảng IPA phụ âm.

Nhóm phụ âm thứ năm này được gọi là phụ âm sau lợi (postalveolar). Sở dĩ được gọi như thế vì âm được tạo ra bằng sự tiếp xúc của phần thân lưỡi và vùng vòm miệng phía sau lợi. Khác với các âm chân răng (alveolar) đã được giới thiệu trước đó, nhóm âm này không được tạo ra bằng đầu lưỡi cũng như không còn tiếp xúc với vùng ngay chân răng mà cách chân răng một khoảng. Nhóm phụ âm này bao gồm năm âm, đó là: /ʃ/, /ʒ/, /tʃ/, /dʒ/ và /r/. Dù có điểm chung là đều được tạo ra bằng sự tiếp xúc như trên, năm âm này vẫn có sự khác biệt về cách thức mà luồng hơi được tạo ra, hay còn gọi là phân loại theo phương thức cấu âm (manner of articulation). Dựa theo tiêu chí đó, các âm được phân loại thành:

  • Phụ âm xát (Fricatives): /ʃ/ và /ʒ/. Sở dĩ có tên gọi như vậy là vì những âm này khi phát âm, không khí sẽ bị chặn lại một phần từ đó dẫn đến sự chà xát với răng

  • Phụ âm tắc xát (Affricates): /tʃ/ và /dʒ/. Những âm này khi phát âm, lúc đầu mang tính chất của một âm tắc, nghĩa là có sự dồn nén luồng hơi nhưng không bận, sau đó là sự chà xát luồng hơi với răng

  • Phụ âm tiếp cận (Approximant): /r/. Khi phát âm âm /r/, các bộ phận cấu âm trong khoang miệng sẽ đến gần với nhau nhưng khe hở chưa đủ hẹp để tạo ra sự dao động không khí

Ngoài cách phân loại trên, 5 âm này còn được phân loại dựa trên tiêu chí về tính chất hữu thanh, bao gồm hai nhóm nhỏ:

  • Âm vô thanh (Voiceless sounds): /ʃ/, /tʃ/. Đây là những âm mà khi phát ra, không có sự rung động của các dây thanh quản ở cuống họng.

  • Âm hữu thanh (Voiced sounds): /ʒ/, /dʒ/, /r/: Đây là những âm mà khi phát ra sẽ có sự rung động của các dây thanh quản ở cuống họng. Khi chạm tay vào và phát âm, sẽ có thể cảm nhận được sự rung động đấy

Thí sinh có thể phát âm chuỗi các từ “she” (/ʃi:/) , “Asia” (/ˈeɪ.ʒə/), “cheap” (/tʃiːp/), “jeep” (/dʒiːp/), “re” (/ri:/) để thấy sự khác biệt về cách bật hơi cũng như sự rung động ở dây thanh quản. Ở bài viết này, thí sinh sẽ trước hết tìm hiểu hai phụ âm sau lợi tiếp theo của nhóm, /tʃ/ và /dʒ/.

Phụ âm /tʃ/

Còn được gọi là phụ âm sau lợi tắc xát vô thanh (voiceless postalveolar affricate), âm này được cấu tạo bằng cách để thân lưỡi tiếp xúc với phần vòm miệng cách phần chân răng trên một khoảng, sau đó luồng hơi sẽ được bật ra. Nhìn vào biểu tượng, có thể thấy âm này có hai thành phần, một ký hiệu giống âm /t/ và một ký hiệu giống âm /ʃ/. Đây là vì âm này bắt đầu như một âm /t/, có sự dồn nén luồng hơi sẵn sàng chờ bật ra, nhưng sau đó luồng hơi lại được đưa ra dưới dạng khi đang ma sát với hai răng. Âm /t/ là một âm bật hơi (hay âm tắc), còn âm /ʃ/ là một âm xát, và âm /tʃ/ mang đặc tính của cả hai âm này nên gọi là âm tắc xát. Tương tự như hai âm sau lợi ở bài trước, âm này cũng không có âm tương đương trong tiếng Việt, nên việc phát âm cũng có thể gặp nhiều khó khăn. Một số thí sinh sẽ dễ nhầm lẫn âm này với âm của phụ âm “ch” trong tiếng Việt, nhưng hai âm này có sự khác biệt. Âm “ch” trong tiếng Việt có phần thân sau của lưỡi chạm vào vùng ngạc mềm (phía sau của vòm miệng) và sau đó bật hơi, trong khi âm /tʃ/ lại có thân lưỡi chạm vào vùng vòm miệng rồi bật hơi. Âm /tʃ/ có thể đứng ở đầu một từ như trong “chip” (khoai tây chiên), “cheat” (gian lận); ở giữa từ như trong “matches” (những que diêm), “butcher” (thợ làm thịt); ở cuối từ như trong “patch” (miếng dán), “rich” (giàu có). Hình bên dưới miêu tả các bộ phận khoang miệng khi phát âm âm /tʃ/:

image-alt

Thí sinh có thể luyện tập câu “If Charlie chews shoes, should Charlie choose the shoes he chews?” (Nếu chú chó Charlie nhai giày, Charlie có nên chọn những đôi giày mà nó nhai?) để luyện tập phát âm hai âm /tʃ/ và /ʃ/ tốt hơn.

Âm /tʃ/ là một âm tương đối dễ nhận biết trong từ vựng tiếng Anh, với một số dấu hiệu như sau:

  • Xuất hiện tại những từ bắt đầu, có chứa hoặc kết thúc bằng tổ hợp “ch” như trong “cheap” (rẻ tiền), “much” (nhiều), “voucher” (phiếu giảm giá)

  • Xuất hiện tại những từ có chứa hoặc kết thúc bằng tổ hợp “tch” như trong “wretched” (đáng thương), “watch” (xem)

  • Xuất hiện tại những từ kết thúc bằng hậu tố “-ture” (được phát âm là /ʧə/) như trong “future” (tương lai), “mature” (trưởng thành), “creature” (sinh vật)

  • Xuất hiện trong từ “question”. Thông thường, hậu tố “-tion” sẽ được phát âm là /ʃn/, nhưng đặc biệt trong từ này, "-tion” sẽ được phát âm thành /tʃn/

Tuy vậy, cũng cần lưu ý rằng không phải lúc nào tổ hợp “ch” cũng sẽ được phát âm là /tʃ/, cụ thể hơn có hai hình thức phát âm khác:

  • “ch” cũng được phát âm là /k/ trong nhiều trường hợp, nhất là khi “ch” đi với một phụ âm khác như trong “school” (trường học), “chronological” (theo trình tự thời gian), nhưng cũng có một số trường hợp không đi với phụ âm như “chemistry” (hóa học).

  • “ch” cũng được phát âm là /ʃ/ trong một số trường hợp khác như trong “chef” (đầu bếp), “mustache” (ria mép), “machine” (máy móc) hoặc “brochure” (tờ rơi quảng cáo). Số lượng của những trường hợp này tương đối ít nên thí sinh chỉ cần học thuộc cách phát âm của toàn từ thay vì nắm quy tắc nhận biết.

Phụ âm /dʒ/

Còn được gọi là phụ âm sau lợi tắc xát hữu thanh (voiced postalveolar affricate), âm này cũng được tạo ra bằng cách tương tự như âm /tʃ/, với điểm khác biệt nằm ở chỗ có sự rung động của các dây thanh quản. Tương tự như biểu tượng của âm /tʃ/, biểu tượng của âm /dʒ/ cũng bao gồm hai thành phần, một biểu tượng âm /d/, là một âm tắc, và âm /ʒ/ là một âm xát. Âm /dʒ/ là một âm bắt đầu như âm /d/ nhưng khi luồng hơi chưa kịp bật ra đã biến thành sự ma sát với răng như âm /ʒ/, và đây cũng được gọi là một âm tắc xát (affricate). Âm này cũng là một âm khó thành thạo ở thí ính người Việt bởi không có âm tương đồng trong tiếng Việt và các trường hợp biểu hiện trong tiếng Anh cũng rất xa lạ với tiếng Việt. Một số thí sinh sẽ nhầm lẫn âm này với âm /z/ như trong “zoo”, nhưng đây là hai âm hoàn toàn riêng biệt. Âm /z/ sẽ được phát âm với đầu lưỡi chạm vào chân răng trên thay vì có thân lưỡi chạm vào vòm miệng như âm /dʒ/. Âm /dʒ/ có thể đứng ở đầu một từ như trong “jam” (mứt), “juice” (nước ép); ở giữa một từ như trong “judgement” (phán quyết); ở cuối một từ như trong “badge” (phù hiệu), “edge” (cạnh). Hình bên dưới miêu tả các bộ phận khoang miệng khi phát âm âm /dʒ/:

image-alt

Thí sinh có thể luyện tập câu “Jane and Jenny in their blue jackets are watching the jaguar in the cage.” (Jane và Jenny mặc những bộ áo khoác màu xanh đang nhìn những con báo trong lồng”

Âm /dʒ/ cũng là một âm không quá khó để nhận biết trong từ vựng tiếng Anh, bao gồm những trường hợp như:

  • Xuất hiện tại những từ bắt đầu hoặc có chứa phụ âm “j” như trong “joke” (đùa giỡn), “jeans” (quần jeans), “major” (quan trọng), “adjust” (điều chỉnh).

  • Xuất hiện tại những từ có chứa hoặc kết thúc bằng tổ hợp “dge” như trong “judge” (đánh giá), “hedgehog” (con nhím), “gadget” (thiết bị)

  • Xuất hiện tại nhiều từ có bắt đầu, có chứa, kết thúc bằng những tổ hợp “gi”, “ge”, “gy”, trong những trường hợp này, 'g” sẽ được phát âm là /dʒ/, ví dụ như trong “giant” (khổng lồ), “imagine” (tưởng tượng), “genius” (thiên tài), “damage” (tổn thương), “gymnasium” (phòng tập thể hình). Tuy vậy đây không phải là quy tắc áp dụng cho mọi trường hợp, vẫn có nhiều trường hợp “gi” và “ge” vẫn mang âm /g/ như trong “gift” (món quà), “get” (lấy), “hunger” (cơn đói).

Giới thiệu về âm xuýt (sibilants) và cách phát âm -s/-es

Đến đây khi đã học qua hai nhóm phụ âm xát (fricatives) và tắc xát (affricates), thí sinh cũng đồng thời học được toàn bộ phụ âm trong nhóm phụ âm xuýt. Nhóm này được định nghĩa là nhóm phụ âm được phát âm với luồng hơi ma sát với răng với một cao độ nhất định, và lưỡi thì hướng về phía răng hoặc tiếp xúc với răng. Trong nhóm này bao gồm 4 phụ âm ở nhóm phụ âm xát, đó là /s/, /z/, /ʃ/, /ʒ/ và 2 nguyên âm ở nhóm phụ âm tắc xát là /tʃ/ và /dʒ/. Điểm đặc biệt của nhóm phụ âm này chính là khi thêm hậu tố -s ở danh từ số nhiều hoặc động từ ở thì hiện tại, ngôi thứ ba số ít tận cùng bằng một phụ âm trong nhóm, hậu tố này sẽ được phát âm là /iz/ thay vì là /s/ hoặc /z/ như với những phụ âm còn lại. Lấy một số ví dụ bên dưới:

  • Danh từ “match” (trận đấu), khi chuyển sang dạng số nhiều sẽ được phát âm là /‘matʃɪz/ và khi viết ra sẽ được thêm hậu tố -es thay vì -s. Danh từ số nhiều sẽ là “matches”

  • Động từ “push” (đẩy), khi đi với chủ ngữ “he” ở thì hiện tại đơn sẽ được phát âm là /’pʊʃɪz/ và khi viết cũng sẽ được thêm hậu tố là -es thay vì -s. Cả câu sẽ là “He pushes”

  • Động từ “dance” (nhảy múa), khi đi với chủ ngữ “she” ở thì hiện tại đơn sẽ được phát âm là /’dansɪz/ nhưng khi viết chỉ cần thêm hậu tố -s vì chữ “e” đã có sẵn trong từ. Cả câu sẽ là “she dances”

  • Danh từ “quiz” (câu đố), khi ở dạng số nhiều sẽ được phát âm là /kwɪzɪz/ và khi viết, phụ âm -z sẽ được viết lại trước khi thêm hậu tố -es. Danh từ số nhiều sẽ là “quizzes”

Vì thế, khi một từ không tận cùng bằng một âm xuýt nhưng trong cách viết lại có -es, thí sinh cũng không đọc tổ hợp “-es” này là /iz/. Ví dụ như trong từ “decides”, lúc này từ sẽ được phát âm là /dɪ ‘saɪdz/ thay vì /dɪ ’saɪ dɪz/, hoặc danh từ số nhiều “lanes” (làn đường), cũng sẽ không được phát âm là /leɪ nɪz/ mà chỉ đơn giản là /leɪnz/.

Ôn tập và thực hành

A. Hãy cho biết đâu là phát âm đúng của phần được in đậm trong những từ bên dưới?

  1. chopsticks:

    1. /tʃ/

    2. /ʃ/

    3. /k/

  2. Germany:

    1. /g/

    2. /dʒ/

    3. /ʒ/

  3. moustache:

    1. /tʃ/

    2. /ʃ/

    3. /k/

  4. major:

    1. /tʃ/

    2. /ʒ/

    3. /dʒ/

  5. question:

    1. /tʃ/

    2. /ʃ/

    3. /dʒ/

B. Hãy cho biết những từ nào trong những từ bên dưới có phần “-es” được phát âm là /iz/

dances, planes, loves, hopes, moustaches, garages, decides, writes, latches, foxes

Đáp án phần ôn tập thực hành:

A.

  1. A

  2. B

  3. B

  4. C

  5. A

B. dances, moustaches, garages, latches, foxes (những từ này khi ở dạng thông thường sẽ tận cùng bằng một âm xuýt: dance (âm /s/), moustache (âm /ʃ/), garage (âm /ʒ/), latch (âm /tʃ/), fox (âm /s/)

Tổng kết

Hai phụ âm /tʃ/ và /dʒ/ là hai âm tương đối khó và xa lạ với thí sinh người Việt. Tuy vậy, vẫn có những quy tắc phát âm cũng như các dấu hiệu nhận biết mà thí sinh có thể nắm vững và vận dụng khi luyện tập bài nói. Chỉ cần nhìn và nhận diện mặt chữ thường xuyên cũng như luyện tập phát âm mỗi ngày, việc thành thạo hai phụ âm trên không phải là điều quá khó khăn.

0 Bình luận
(0)
Bạn cần để có thể bình luận và đánh giá.
Đang tải bình luận...