Giới thiệu về hai nguyên âm /æ/ và /ɑː/ trong bảng nguyên âm

Bài viết giới thiệu về hai nguyên âm kế tiếp là /æ/ và /ɑː/
Published on
gioi-thieu-ve-hai-nguyen-am-va-trong-bang-nguyen-am

Trong bài thi Speaking, tiêu chí Phát âm có thể là một chướng ngại vật lớn đối với thí sinh Việt Nam. Nhiều thí sinh luyện tập thường xuyên vẫn không thể cải thiện được phát âm một cách hoàn chỉnh và chính xác. Một lý do cho việc này nằm ở sự khác biệt giữa các âm trong hai hệ thống âm của hai thứ tiếng, từ đó dẫn đến việc có những cách phát âm còn giống tiếng Việt, chưa đúng phương cách của tiếng Anh. Với những âm phụ âm, thí sinh có thể tham khảo bảng phiên âm quốc tế IPA (International Phonemic Alphabet) và những bài viết trước để nắm vững cách phát âm. Còn với âm nguyên âm, công cụ đắc lực của thí sinh là bảng nguyên âm (Vowel Box). Có nhiều thí sinh được giới thiệu qua bảng sau nhưng lại chưa biết cách học đúng. Đến với bài viết tiếp theo này, thí sinh sẽ được giới thiệu về hai nguyên âm nữa là /æ/ và /ɑː/

Nhắc lại về nguyên âm và cấu tạo bảng nguyên âm

Ở những bài viết trước, thí sinh đã được giới thiệu về khái niệm “phụ âm”. Nói một cách đơn giản, phụ âm là những âm mà luồng hơi đi ra bị chặn lại bởi một bộ phận nào đó trong khoang miệng. Còn với nguyên âm, đây là những âm mà luồng hơi đi ra một cách tương đối thoải mái, chỉ bị chặn lại nhẹ bởi phần lưỡi. Và vị trí đặt phần lưỡi cũng chính là một trong những tiêu chí phân biệt các nguyên âm với nhau. Ngoài ra, các nguyên âm còn được phân biệt với nhau bằng độ dài và độ mở của miệng. Có thể thấy, ba tiêu chí này không giống với ba tiêu chí phân biệt phụ âm đã được nhắc đến trước đây (bộ phận cấu âm, phương thức câu âm, tính hữu thanh-vô thanh).

Khi xét về mặt vị trí phân bố trong một âm tiết, nguyên âm là bộ phận quan trọng nhất, bắt buộc phải có trong một âm tiết. Vì thế với nguyên âm, sẽ không có những trường hợp phân bố đứng ở đầu, giữa hay cuối một từ, mà nguyên âm sẽ luôn làm thành phần lõi (nucleus) của các âm tiết trong một từ.

Ngoài ra, bảng nguyên âm cũng có cấu tạo không giống với bảng phụ âm. Nếu bảng phụ âm là một hình chữ nhật, thì bảng nguyên âm (Vowel box) có cấu tạo như một hình thang, với bốn hàng ngang miêu tả chiều cao của lưỡi (cao, cao giữa, thấp giữa, thấp), và ba cột dọc miêu tả vị trí đặt lưỡi (trước, giữa, sau). Với mỗi tổ hợp về chiều cao và vị trí đặt lưỡi, sẽ thường xuất hiện một cặp nguyên âm ngắn-dài. Nhưng đây không phải là một quy tắc áp dụng chung (nguyên âm /e/ không có nguyên âm dài tương đương)

Vị trí của hai nguyên âm /æ/ và /ɑː/ trong bảng nguyên âm

Khác với hai nguyên âm /ɪ/ và /i:/, hai nguyên âm /æ/ và /ɑː/ không thực sự nằm gần nhau trong bảng nguyên âm. Trong 6 mảng được phân chia, hai nguyên âm /æ/ và /ɑː/ nằm ở hai mảng khác nhau. Điểm chung duy nhất giữa hai âm này là vị trí chung hàng cuối, tuy ở hai cột khác nhau. Khi căn theo cấu tạo của bảng nguyên âm, hàng cuối này cũng báo hiệu cả hai nguyên âm này đều là âm mở, với môi tròn, không căng và vị trí lưỡi đặt thấp trong khoang miệng. Ngoài tiêu chí này ra, hai âm này có một âm dài và một âm ngắn, cũng như một âm có lưỡi đưa về phía trước, và một âm có lưỡi đưa về phía sau.

Nguyên âm /æ/ (Nguyên âm “a” ngắn)

Nguyên âm trên còn được biết với tên nguyên âm ngắn, miệng mở, không tròn môi, dòng trước (short open front unrounded vowel). Nếu nguyên âm /i:/ là nguyên âm tiệm cận với vị trí Close (miệng đóng hoàn toàn) và vị trí Front (lưỡi đặt trước hoàn toàn), thì nguyên âm /æ/ lại tiệm cận với vị trí Front và Open (miệng mở hoàn toàn). Trong sơ đồ của Vowel Box, đó là vị trí của góc dưới cùng bên trái. Nhưng là vị trí tiệm cận, nguyên âm /æ/ có độ mở tương đối rộng, từ đó lưỡi cũng được đặt ở một vị trí tương đối thấp, nhưng đưa về trước.

Hình bên dưới miêu tả khẩu hình miệng khi phát âm âm /æ/:

image-alt

Khi đem so sánh với âm của chữ “a” trong tiếng Việt, có thể thấy nguyên âm /æ/ có miệng mở hẹp hơn một ít, nhưng các tiêu chí còn lại vẫn được giữ nguyên. Thí sinh có thể đọc hai từ “cát” và “cat” (con mèo) để thấy sự khác biệt. Với từ “cat”, khẩu hình miệng của thí sinh sẽ có phần được căng ngang hơn so với “cát” trong tiếng Việt.

Tương tự như âm /ɪ/ ở bài viết trước, âm /æ/ là một âm tương đối dễ nhận biết trong một từ, bởi chỉ có một hình thức biểu hiện phổ biến, đó là khi một từ hoặc một âm tiết đi theo công thức “XaX”, trong đó X là một phụ âm bất kỳ (ngoài phụ âm “r”, “l”, “f” , “s”, “n” hoặc “w”). Nói cách khác, trước và sau nguyên âm “a” không có nguyên âm nào khác thì nguyên âm “a” sẽ được phát âm là /æ/. Ngoài ra, nếu nguyên âm “a” đứng ở đầu hoặc cuối một từ và nguyên âm này không mang trọng âm, lúc này sẽ không được phát âm là /æ/ mà được phát âm như nguyên âm không nhấn /ə/. Lấy hai từ “apple” và “about” để so sánh. “Apple” (/ˈæpəl/) có trọng âm ở âm tiết đầu tiên chứa nguyên âm “a” nên được phát âm là /æ/, còn “about” (/əˈbaʊt/) có trọng âm ở âm tiết thứ hai nên nguyên âm “a” được phát âm là /ə/. Còn những từ tận cùng bằng nguyên âm “a” như “formula” (/’fɔːmjʊlə/, công thức), “diploma” (/dɪplˈə͡ʊmə/, bằng tốt nghiệp) sẽ có nguyên âm này cũng được phát âm là /ə/.

Thí sinh có thể luyện tập những từ như “add” (/æd/, thêm vào), “bank” (/bæŋk/, ngân hàng), “fashion” (/’fæʃən/, thời trang), “magic” (/’mædʒɪk/, phép thuật) và thấy rằng những nguyên âm “a” trong những từ này đều được phát âm là /æ/.

Nguyên âm /ɑː/ (Nguyên âm “a” dài)

Nguyên âm trên còn được biết với tên nguyên âm dài, miệng mở, dòng sau, tròn môi (long open back rounded vowel). Nguyên âm /ɑː/ nằm ở chiều ngược lại hoàn toàn với nguyên âm /i:/ trong Vowel Box. Nếu /i:/ là âm tiệm cận với vị trí Front (lưỡi đặt trước) và Close (miệng đóng) thì /ɑː/ là âm tiệm cận với vị trí Back (lưỡi đặt về sau) và Open (miệng mở). Trong sơ đồ của Vowel Box, đó là vị trí của góc dưới cùng bên phải. Tương tự với âm /æ/, nguyên âm /ɑː/ cũng chỉ mang vị trí tiệm cận, nên cũng có độ mở tương đối rộng nhưng không quá rộng nhưng tròn môi hơn và ít căng hơn khi so với nguyên âm /æ/.

Hình bên dưới miêu tả khẩu hình miệng khi phát âm âm /ɑː/:

image-alt

Khi đem so sánh với âm của chữ “a” trong tiếng Việt, nguyên âm /ɑː/ lại có độ mở môi lớn hơn và tròn hơn, gần giống với chữ “o”. Còn lại nhưng các tiêu chí còn lại vẫn được giữ nguyên. Thí sinh có thể đọc hai từ “cát” và “cart” (xe đẩy) để thấy sự khác biệt. Với từ “cart”, khẩu hình miệng có phần tròn hơn khi phát âm từ “cát”

Khi ta xem xét tất cả các trường hợp chữ “a” đứng riêng lẻ và không kèm với nguyên âm khác, nói cách khác là theo công thức “XaX”, nguyên âm “a” sẽ được phát âm là /ɑː/ khi đi phía sau là một trong hai phụ âm “r” hoặc “l”. Lấy ví dụ một số từ như “card” (/kɑːd/, thẻ), “half” (/hɑːf/, một nửa). Riêng đối với trường hợp nguyên âm “a” đi phía trước phụ âm “w” hoặc nguyên âm “u” như trong “awful” (/ˈɔːfəl/, tồi tệ), hoặc “naughty” (/‘nɔːti/, nghịch ngợm), nguyên âm lúc này sẽ được phát âm là /ɔː/, và đây là một nguyên âm sẽ được giới thiệu ở những bài viết sau. Ngoài ra, trong tiếng Anh cũng có các trường hợp mà nguyên âm “a” đứng ở đầu một từ và theo sau là các phụ âm “n”, “f”, “s. Khi đó “a” được phát âm là /ɑː/ như trong “after” (//sau đó), “ask” (/ɑːsk/, hỏi), “answer” (/ˈɑːnsə/, trả lời). Những tổ hợp “-an-”, “-af-”, “-as-” cũng có thể xuất hiện ở giữa một từ như trong “dance” (/dɑːns/, nhảy múa), “draft” (/drɑːft/, bản thảo), “classroom” (/’klɑːsruːm/, lớp học) và “a” vẫn được phát âm là /ɑː/.

Ngoài ra, cũng phải kể đến một số trường hợp mà tại đó nguyên âm “a” được phát âm là /ɑː/ dù không tuân theo nguyên tắc cụ thể nào kể trên như “yacht” (/jˈɑːt/, du thuyền) hay “father” (/’fɑːðə/, cha)

Luyện tập phát âm

  1. Nguyên âm /æ/:

    1. That man works in a camera factory (Người đàn ông đó làm trong một xí nghiệp camera)

    2. Sam let the cat out of the bag (Sam đã làm tiết lộ bí mật)

    3. I handed my black jacket to Patty (Tôi đưa chiếc áo khoác đen cho Patty)

  2. Nguyên âm /ɑː/

    1. How far is the the car park from the garage? (Bãi đậu xe cách gara bao xa?)

    2. We went to a large bar with many film stars (Chúng tôi đi đến một quán rượu với nhiều ngôi sao điệnh ảnh)

    3. My father’s departure was half an hour ago. (Giờ khởi hành của cha tôi là nửa tiếng trước)

Sự khác biệt của nguyên âm “a” theo giọng Anh-Anh và Anh-Mỹ

Xuyên suốt bài viết từ đầu đến giờ, những quy tắc phát âm cũng như cách phát âm của nguyên âm “a” đều được phỏng theo giọng Anh-Anh (British English accent) thay vì giọng Anh-Mỹ (American English accent). Nếu thí sinh đã quen với giọng Anh-Mỹ, thí sinh có thể sẽ thấy những hướng dẫn phát âm trên là xa lạ. Vì thế, phần bên dưới sẽ đính chính một số điểm khác biệt giữa hai giọng để thí sinh có thể luyện tập theo cho phù hợp:

  • Trong giọng Anh-Anh, tổ hợp “-ar-” chỉ được phát âm thành một nguyên âm duy nhất /ɑː/, trong khi đó giọng Anh-Mỹ sẽ có thêm một sự cong lưỡi của chữ “r” và phát âm thành /ɑːr/ như trong “market” (/’mɑːrkɪt/, chợ) hoặc “park” (/’pɑːrk/, công viên)

  • Trong giọng Anh-Mỹ, tất cả những nguyên âm “a” ở vị trí đầu tiên trong từ đều sẽ được phát âm là /æ/. Vì thế những từ như “answer”, “after” hay “asking” trong tiếng Anh-Mỹ sẽ được phát âm là /ˈænsə/, /ˈæftə/ và /ˈæskɪŋ/

  • Tổ hợp “-aw-” hay “-au-” trong giọng Anh-Anh được phát âm là /ɔː/ nhưng trong giọng Anh-Mỹ vẫn được phát âm là /ɑː/

Bài tập thực hành

(Phần bài tập bên dưới sẽ được phỏng theo giọng Anh-Anh)

  1. Trong số những từ bên dưới, hãy khoanh tròn từ có nguyên âm gạch dưới được phát âm khác với những từ còn lại:

    1. map - cram - mask - bat

    2. battle - father - master - after

    3. partner - starter - lava - magic

    4. answer - dancer - sandal - auntie

  2. Từ nào trong số những từ dưới đây có nguyên âm “a” gạch chân được phát âm là /ɑː/:

fatherhood, graduate, lavender, scarcity, masterpiece, magician, standardize, star-studded

Đáp án phần ôn tập và thực hành:

  1. Bài tập 1

    1. mask (/mɑːsk/), còn lại: æ

    2. battle (/’bætə͡l/, còn lại: ɑː

    3. magic (/’mɑːd͡ʒɪk/), còn lại: æ

    4. sandal (/sændə͡l/), còn lại: ɑː

  2. Bài tập 2: fatherhood, scarcity, masterpiece, star-studded

Tổng kết

Dù mang nhiều nét tương đồng với nguyên âm “a” trong tiếng Việt, giữa hai nguyên âm /æ/ và /ɑː/ vẫn còn những khác biệt nhỏ, làm cho cách phát âm của chúng khác đi nhiều. Tuy có nhiều quy tắc phát âm thí sinh có thể nắm, việc học thuộc cách phát âm của từng từ riêng lẻ vẫn là cách tốt nhất để đảm bảo cách phát âm tự nhiên nhất khi làm bài thi Speaking. Thí sinh cũng cần phải xác định giọng mà mình muốn theo để có thể có cách phát âm phù hợp.

0 Bình luận
(0)
Bạn cần để có thể bình luận và đánh giá.
Đang tải bình luận...