Giới thiệu phụ âm /ŋ/ và /h/ trong bảng IPA

Bài viết giới thiệu về hai phụ âm /ŋ/ và /h/ trong bảng IPA
Published on
gioi-thieu-phu-am-va-h-trong-bang-ipa

Trong bài thi Speaking, tiêu chí Phát âm có thể là một chướng ngại vật lớn đối với thí sinh Việt Nam. Nhiều thí sinh luyện tập thường xuyên vẫn không thể cải thiện được phát âm một cách hoàn chỉnh và chính xác. Một lý do cho việc này nằm ở sự khác biệt giữa các âm trong hai hệ thống âm của hai thứ tiếng, từ đó dẫn đến việc có những cách phát âm còn giống tiếng Việt, chưa đúng phương cách của tiếng Anh. Một cách để giúp tiếp cận phát âm tiếng Anh chính xác hơn là thông qua việc học bảng Phiên âm Quốc tế (IPA - International Phonetics Alphabet), do đây là một bảng tổng hợp tất cả các âm được sử dụng trong tiếng Anh. Có nhiều thí sinh được giới thiệu qua bảng sau nhưng lại chưa biết cách học đúng. Vì thế, chuỗi bài viết sau hướng đến việc giới thiệu về các nhóm âm trong bảng IPA, về cách tạo âm đúng cũng như những sự khác biệt với các âm trong tiếng Việt. Bài viết này sẽ giới thiệu về hai âm trong hai cột cuối cùng của bảng IPA.

Key takeaways:

  1. Phụ âm vòm mềm là phụ âm được tạo ra với phần cuống lưỡi nâng lên để chạm vào phần vòm mềm ở phía sau cùng của vòm miệng trên

  2. Âm /ŋ/ là phụ âm vòm mềm được tạo ra với luồng hơi đi ra khỏi khoang mũi

  3. Âm /h/ là phụ âm thanh hầu được tạo ra với luồng hơi đi từ thanh quản ra khỏi khoang miệng mà không tiếp xúc với các bộ phận khoang miệng còn lại

Khái niệm phụ âm và phụ âm vòm mềm

Trong ngữ âm học, phụ âm là những âm mà khi phát ra, thanh quản sẽ đóng lại một phần hoặc đóng lại hoàn toàn, từ đó luồng hơi phát ra sẽ bị cản trở một phần hoặc hoàn toàn. Trong tiếng Anh hiện nay, hầu hết các nhà ngôn ngữ học ghi nhận 24 âm phụ âm và thành lập nên bảng IPA phụ âm.

Nhóm phụ âm thứ sáu của bảng IPA còn có tên gọi là phụ âm vòm mềm (velar). Tên gọi này xuất phát từ quá trình cấu tạo âm, trong đó phần cuống lưỡi sẽ được nâng lên để chạm vào vùng vòm mềm (vùng phía sau của vòm miệng trên, còn gọi là “velum”), sau đó luồng hơi sẽ được đưa ra. Nhóm phụ âm này bao gồm 3 âm, đó là /k/, /g/ và /ŋ/. Tuy có sự tương đồng về vị trí các bộ phận miệng dùng để cấu tạo âm, ba âm trên vẫn có sự khác biệt về cách thức mà luồng hơi được tạo ra, hay còn gọi là phân loại theo phương thức cấu âm (manner of articulation). Dựa theo tiêu chí đó, các âm được phân loại thành:

  • Phụ âm bật (Plosive sounds): /k/ và /g/. Khi phát âm hai âm này, luồng hơi trước hết sẽ được nén lại ở phía trong cùng của khoang miệng, nơi phía sau lưỡi. Và sau đó sẽ được bật ra khỏi khoang miệng một cách dứt khoát. Giữa hai âm này, điểm khác biệt duy nhất là luồng không khí bật ra khi phát âm âm /g/ sẽ nhẹ hơn so với khi phát âm âm /k/

  • Phụ âm mũi (Nasal sound): /ŋ/. Cũng tương tự như hai âm trên, âm /ŋ/ được tạo ra với phần thân sau đưa lên chạm vào vùng vòm mềm của lưỡi. Nhưng lúc này luồng hơi không đi ra khỏi khoang miệng mà lại đi ra khỏi khoang mũi, vì thế âm cũng có tên gọi như trên.

Ngoài cách phân loại trên, 3 âm này còn được phân loại dựa trên tiêu chí về tính chất hữu thanh, bao gồm hai nhóm nhỏ:

  • Âm vô thanh (Voiceless sounds): /k/. Đây là những âm mà khi phát ra, không có sự rung động của các dây thanh quản ở cuống họng.

  • Âm hữu thanh (Voiced sounds): /g/ và /ŋ/: Đây là những âm mà khi phát ra sẽ có sự rung động của các dây thanh quản ở cuống họng. Khi chạm tay vào và phát âm, sẽ có thể cảm nhận được sự rung động đấy

Thí sinh có thể phát âm chuỗi các từ “can”, “gun” và “gong” để thấy sự khác biệt về cách bật hơi cũng như sự rung động ở dây thanh quản. Ở bài viết này, thí sinh sẽ trước hết tìm hiểu hai phụ âm vòm mềm đầu tiên: /k/ và /g/

Khái niệm phụ âm thanh hầu

Tại cột cuối cùng của bảng IPA là nhóm những phụ âm thanh hầu (Glottal consonants). Phụ âm thanh hầu là phụ âm được tạo ra không phải bằng những bộ phận trong khoang miệng mà bằng khu vực thanh môn (glottis). Lúc này luồng hơi được tạo ra ở vùng thanh môn và đưa ra khỏi khoang miệng mà không yêu cầu bất cứ bộ phận khoang miệng nào tiếp xúc với nhau. Bảng IPA tiếng Anh chỉ ghi nhận 1 âm phụ âm trong nhóm này, đó là âm /h/. Thí sinh có thể thử phát âm từ “hat” và sẽ nhận thấy các bộ phận khoang miệng dường như không di chuyển trong lúc âm /h/ được phát ra.

Phụ âm /ŋ/

Âm /ŋ/ còn được biết đến với tên gọi là phụ âm mũi vòm mềm hữu thanh (voiced velar nasal). Âm /ŋ/ được tạo ra bằng cách thức tương tự như âm /k/ và /g/, đó là nâng phần cuống lưỡi lên để chạm vào vòm mềm. Khác biệt giữa ba âm này nằm ở chỗ: với âm /ŋ/ thì sẽ không có luồng hơi được bật mạnh ra khỏi khoang miệng, mà thay vào đó luồng hơi sẽ đi ra khỏi khoang mũi. Cũng vì thế mà âm /ŋ/ còn được gọi là một âm mũi. Khi phát âm âm /ŋ/ và thí sinh thử đặt tay lên cổ họng, sẽ cảm nhận được sự rung động của các dây thanh quản. Nên /ŋ/ còn mang tính chất là một âm hữu thanh.

Thoạt nhìn ký hiệu /ŋ/ có vẻ không quá quen thuộc, nhưng thực chất tiếng Việt cũng có âm tương đương với âm /ŋ/. Đó chính là âm được tạo ra bởi phụ âm “ng” như trong “song song”. Vì vậy, việc phát âm chính xác âm /ŋ/ không phải là một rào cản quá lớn với thí sinh Việt Nam. Trong tiếng Anh, âm /ŋ/ có thể đứng ở giữa một từ như trong “singing” (/’sɪŋɪŋ/, đang hát), “longer” (/’lɒŋɡə/, dài hơn) hoặc ở cuối một từ như trong “ring” (/rɪŋ/, reo lên) hoặc “bang” (/baŋ/, đập vào). Điểm đặc biệt với âm /ŋ/ là âm này không bao giờ xuất hiện ở đầu một từ trong tiếng Anh. Bởi vì nét tương đồng với trong tiếng Việt, nên một âm dễ nhầm lẫn với âm /ŋ/ trong tiếng Anh đó là âm /n/ khi ở vị trí cuối từ. Thí sinh hãy thử đọc các cụm từ: “put a ban on banging on doors” , “a fan of animals with fangs” để thấy sự khác biệt giữa hai âm này trong một từ. Hình bên dưới miêu tả các bộ phận khoang miệng khi phát âm âm /ŋ/:

Pronounce ng sound — Pronuncian: American English Pronunciation

Trong một từ, âm /ŋ/ có thể xuất hiện trong một số tổ hợp phụ âm (consonant clusters) với một số hình thức biểu hiện khác nhau như:

  • Khi phụ âm “-ng” xuất hiện cuối một từ, phụ âm này sẽ luôn được phát âm là /ŋ/. Như trong “belong” (thuộc về), “morning” (/’mɔːnɪŋ/, buổi sáng), “sing” (/sɪŋ/, hát)

  • Khi phụ âm “-ng” xuất hiện ở giữa một từ, đôi lúc phụ âm sẽ được phát âm chỉ là /ŋ/ (như trong “singer” (/’sɪŋə/ca sĩ)), nhưng phần lớn các trường hợp, “-ng” giữa một từ sẽ được phát âm là /ŋg/ (như trong “longer” (/
    ’lɒŋɡə/, dài hơn), “finger” (/’fɪŋɡə/, ngón tay))

  • Khi phụ âm “-nk” xuất hiện ở giữa hoặc cuối một từ, phụ âm này sẽ luôn được phát âm là /ŋk/. Như trong “sink” (/’sɪŋk/, chìm), “banker” (/’baŋkə/, nhân viên ngân hàng), “uncle” (/ˈʌŋkəl/, chú bác)

Phụ âm /h/

Tên đúng thuật ngữ ngữ âm học của phụ âm /h/ chính là âm xát thanh hầu hữu thanh (voiced glottal fricative). Âm /h/ là một âm đặc biệt vì là âm duy nhất thuộc nhóm âm thanh hầu (glottal) và cũng là âm duy nhất được tạo ra bởi thanh hầu (vùng giữa của thanh quản trong cổ họng). Mặc dù được gọi là một âm xát giống như âm /f/, /v/, /s/, /z/, nghĩa là có sự chà xát giữa luồng hơi và các bộ phận trong khoang miệng, luồng hơi của âm /h/ lại đi ra một cách khá thoải mái và không bị cản trở. Và khi phát âm âm /h/ và để tay lên cổ họng sẽ không cảm nhận được sự rung động của các dây thanh quản. Vì lẽ đó nên /h/ cũng là một âm vô thanh.

Nhìn thoáng qua biểu tượng của âm, có thể thấy đây cũng là chữ cái “h” trong bảng chữ cái tiếng Việt. Và /h/ cũng là âm tương đương với âm mà chữ “h” tạo ra trong tiếng Việt (như trong từ “hốc hác”). Trong tiếng Anh, âm /h/ có thể xuất hiện ở vị trí đầu một từ (như trong “house” (/haʊs/, căn nhà), “help” (/hɛlp/, trợ giúp), hoặc ở giữa một từ (như trong “behind” (/bɪ’haɪnd/, phía sau)). Điểm đặc biệt với âm /h/ là âm này không xuất hiện ở vị trí cuối một từ, tương tự với âm /w/ và /j/ đã được đề cập trước đó. Một câu chào hỏi phổ biến mà thí sinh có thể dùng để luyện tập âm /h/ chính là câu “Hi, hello, how are you?”. Hình bên dưới mô tả các bộ phận khoang miệng khi phát âm âm /h/:

Pronounce h sound — Pronuncian: American English Pronunciation

Trong một từ, âm /h/ có hai hình thức biểu hiện, trong đó bao gồm:

  • Hình thức phổ biến hơn là những từ bắt đầu hoặc có chứa phụ âm “h” như trong “have” (/hav/, có), “hold” (/həʊld/, nắm giữ) hoặc “ahead” (/əˈhed/, trước mặt)

  • Hình thức thứ hai là những từ bắt đầu bằng “who-” như trong “who” (/hu:/, ai), “whose” (huːz/, của ai), “whole” (/həʊl/, nguyên vẹn)

Hình thức biểu hiện đơn giản là thế, trường hợp những từ có phụ âm “h” nhưng lại không được phát âm cũng rất nhiều, nổi bật bao gồm:

  • Một số từ bắt đầu bằng phụ âm “h” như “hour” (/ˈaʊə/, giờ), “honest” (/ˈɒnɪst/, thật thà), “honour” (/ˈɒnə/, danh dự)

  • Khi phụ âm “h” đi phía sau phụ âm “g” ở đầu một từ như trong “ghost” (/ɡəʊst/, con ma), hoặc phía sau phụ âm “r” như trong “rhythm” (/’rɪðəm/, nhịp điệu), hoặc phía sau phụ âm “w” như trong “where” (/weə/, ở đâu)

  • Khi phụ âm “-gh” đứng ở cuối một từ, lúc này toàn bộ phụ âm sẽ là một âm câm, như trong “through” (/θruː/, xuyên qua), “although” (/ɔːl’ðəʊ/, mặc dù).

Ngoài ra, khi phụ âm “h” đi phía sau một phụ âm khác, tổ hợp này tạo thành một chữ ghép. Lúc này, chữ ghép này được đọc như là một âm. Trong tiếng Anh có một số digraph phổ biến với phụ âm “h”, bao gồm:

  • “ph” được phát âm là /f/ (như trong “photograph”)

  • “ch” được phát âm là /tʃ/ (như trong “chair”) hoặc /k/ (“school”)

  • “sh” được phát âm là /ʃ/ (như trong “ship”)

  • “th” được phát âm là /ð/ (như trong “that”) hoặc /θ/ (như trong “think”)

Hiện tượng nuốt âm /h/

Khi giao tiếp nhanh, âm /h/ ở đầu một số từ thông dụng như “his, her, him, have, had, has, here” sẽ được lược bỏ để thuận tiện cho việc giao tiếp. Lúc này, những từ này được phát âm như thể được bắt đầu bằng một phụ âm. Chẳng hạn như trong cụm từ “book his ticket” (đặt vé cho anh ấy), chữ “his” sẽ được “nuốt mất” phụ âm /h/ đầu để giao tiếp được tiện lợi hơn. Và lúc này, âm /k/ ở cuối từ “book” sẽ được nối vào phần nguyên âm /iz/ của từ “his”. Và toàn bộ cụm từ sẽ được phát âm như “bookis ticket”

Ôn tập và thực hành

  1. Xác định từ có phần gạch dưới được phát âm khác với những từ còn lại:

    1. ankle - uncle - banking - unknown

    2. angel - triangle - finger - stronger

    3. singing - language - wrong - evening

    4. engage - single - swinging - ringing

Dựa vào phiên âm IPA, hãy xác định từ nào trong những từ được cho sẵn là từ có phát âm tương ứng:

  1. /hed/

    1. HEAD

    2. HAD

    3. HEED

  2. /ˈaʊə/

    1. HOUR

    2. HAUL

    3. HOLE

  3. /hu:/

    1. HUT

    2. WHO

    3. HOSE

Đáp án phần ôn tập và thực hành:

  1. Bài tập 1

    1. unknown (“nk” chỉ được phát âm là /n/ do “k” là một phụ âm câm khi đi trước “n”).

    2. angel (“ng” lúc này được phát âm là /ndʒ/ và dʒ là một cách phát âm phổ biến của phụ âm “g”)

    3. language (“ng” lúc này được phát âm là /ŋg/ trong khi những từ còn lại “ng” chỉ được phát âm là /ŋ/)

    4. engage (Đây là sự kết hợp của hai phần en- /ɪn/ và -gage /ˈɡeɪdʒ/ nên “ng” chỉ đơn giản là hai âm /n/ và /g/ kết hợp với nhau

  2. Bài tập 2

  1. A

  2. A

  3. B

Tổng kết

Âm /ŋ/ và /h/ thực chất không phải là hai phụ âm quá mới với thí sinh Việt, bởi vẫn có âm tương ứng của phụ âm “ng” và “h” trong tiếng Việt. Tuy nhiên số lượng trường hợp âm câm và những trường hợp digraph của phụ âm “h” cũng đáng được quan tâm và lưu ý để không phát âm sai.
Đây cũng là hai phụ âm cuối cùng trong bảng IPA tiếng Anh, tất cả những từ trong tiếng Anh đều được cấu thành bằng cách kết hợp các phụ âm trong bảng này. Thí sinh hãy tìm đọc lại các bài viết cũ về bảng IPA để nắm rõ cách phát âm những phụ âm còn lại trong bảng để có thể phát âm chính xác tất cả các từ.

0 Bình luận
(0)
Bạn cần để có thể bình luận và đánh giá.
Đang tải bình luận...