Banner background

Biện pháp tu từ trong thơ là gì? Các biện pháp và phân tích tác dụng

Biện pháp tu từ có vai trò quan trọng. Nắm vững tác dụng của chúng, học sinh THPT sẽ có thêm công cụ nâng cao năng lực phân tích tác phẩm Ngữ văn.
bien phap tu tu trong tho la gi cac bien phap va phan tich tac dung

Key takeaways

  • Biện pháp tu từ trong thơ là sự tổ chức ngôn từ một cách đặc biệt trên nhiều cấp độ nhằm xây dựng thế giới hình tượng trong thơ.

  • Biện pháp tu từ trong thơ đóng vai trò quan trọng, như tạo nhạc điệu, nhấn mạnh cảm xúc, và cấu tứ bài thơ.

  • Để phân tích biện pháp tu từ trong thơ, học sinh thực hiện 3 bước: (1) Nhận diện, (2) Nêu tác dụng, (3) Kết luận

Trong quá trình học và làm bài môn Ngữ văn, nhiều học sinh THPT gặp khó khăn khi phân tích biện pháp nghệ thuật. Yêu cầu dành cho học sinh THPT không chỉ là gọi tên biện pháp, mà còn là nhìn thấy được tâm tư tình cảm của tác giả thể hiện bên trong.

Thay vì cứng nhắc học thuộc định nghĩa của từng biện pháp tu từ, học sinh có thể tiếp cận chúng như những phương tiện nghệ thuật được nhà thơ lựa chọn nhằm tạo nên ý nghĩa và giá trị biểu đạt cho tác phẩm, từ đó có cơ sở để phân tích sâu hơn ngôn ngữ thơ.

Bài viết này sẽ hệ thống hóa những kiến thức cơ bản về các biện pháp nghệ thuật thường gặp trong thơ, đồng thời hướng dẫn cách nhận diện và phân tích tác dụng của chúng, giúp học sinh THPT chủ động hơn khi đọc hiểu và cảm thụ thơ, cũng như vận dụng hiệu quả kiến thức vào bài làm.

Biện pháp tu từ trong thơ là gì?

Biện pháp tu từ trong thơ là sự tổ chức ngôn từ nghệ thuật một cách đặc biệt trên nhiều cấp độ (từ, câu, văn bản) nhằm xây dựng một thế giới hình tượng trọn vẹn, hoàn chỉnh, giàu ý nghĩa khái quát. Các biện pháp tu từ rất phong phú, như nhân hoá, ẩn dụ, điệp ngữ, đối,... .

Đây là một trong những phương tiện nghệ thuật quan trọng bậc nhất, góp phần làm nên sức sống và giá trị thẩm mỹ của thơ ca. Trước hết, chúng giúp câu thơ trở nên sinh động, giàu hình ảnh, khiến những sự vật, hiện tượng vốn trừu tượng hay quen thuộc trở nên mới mẻ, cụ thể và có sức gợi hình mạnh mẽ hơn trong tâm trí người đọc.

Bên cạnh đó, biện pháp nghệ thuật còn tạo nên nhịp điệu, âm hưởng riêng cho câu thơ, góp phần điều hòa tiết tấu, làm cho lời thơ giàu nhạc tính. Quan trọng hơn, thông qua các biện pháp tu từ, nhà thơ có thể gửi gắm và bộc lộ một cách sâu sắc, tinh tế những cảm xúc, tâm trạng, tư tưởng của mình, nhờ vậy, mỗi biện pháp không chỉ là một thủ pháp nghệ thuật đơn thuần, mà còn là chiếc cầu nối đưa cảm xúc, tư tưởng của tác giả đến gần hơn với trái tim người đọc, tạo nên dư âm và giá trị lâu bền cho tác phẩm.

Xem thêm: Biện pháp tu từ là gì? Phân loại, cách nhận biết và phân tích tác dụng.

Biện pháp tu từ nhân hóa trong thơ

Khái niệm: Là việc đồng nhất sự vật vô sinh với sự vật hữu sinh, làm cho sự vật ấy sống dậy, có linh hồn và tình cảm như con người.

Dấu hiệu nhận biết: Gán cho các vật vô tri, thiên nhiên, loài vật hoặc cây cỏ những từ ngữ chỉ hoạt động, trạng thái, tính chất hoặc cách xưng hô vốn chỉ dành cho con người.

Tác dụng: Khiến cho thế giới tạo vật và thiên nhiên trở nên sinh động, có hồn, có tình; đồng thời giúp con người gửi gắm, biểu hiện các trạng thái cảm xúc, tâm trạng một cách tự nhiên và sâu sắc; giúp đồ vật, sự vật có thể bày tỏ cảm xúc sâu sắc như con người.

Ví dụ:

Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người

(Quang Dũng, “Tây Tiến”)

Trong hai câu thơ, biện pháp nhân hóa được thể hiện rõ nét qua động từ "trêu". Thông thường, người ta hay dùng những từ ngữ mang sắc thái đe dọa như "rình rập", "vồ", "gầm gừ" để nói về cọp dữ, nhưng Quang Dũng lại chọn từ "trêu" - một hành động vốn chỉ dùng cho con người, mang sắc thái tinh nghịch, đùa cợt. Cách dùng từ ấy vừa khắc họa được sự hiểm nguy rình rập, uy lực đáng sợ của chốn rừng thiêng nước độc nơi biên ải - nơi mà cả thiên nhiên như thác gầm, cọp dữ đều trở thành những thế lực bí ẩn, hoang sơ, luôn chực chờ đe dọa con người; đồng thời cũng gián tiếp bộc lộ thái độ ngang tàng, coi thường hiểm nguy, tinh thần lạc quan, tếu táo đầy chất lính của những người chiến sĩ Tây Tiến. Với họ, ngay cả cái chết rình rập từ thú dữ cũng chỉ như một trò đùa dai của tạo hóa. Nhờ biện pháp nhân hóa tài tình ấy, câu thơ trở nên giàu sức gợi hình, gợi cảm hơn bao giờ hết, khiến hình ảnh núi rừng Tây Bắc hiện lên vừa hùng vĩ, dữ dội, vừa thấm đượm chất lãng mạn, hào hoa rất riêng trong hồn thơ Quang Dũng.

Biện pháp tu từ ẩn dụ trong thơ

Khái niệm: Là sự đồng nhất hai hiện tượng tương tự, thể hiện cái này qua cái kia, trong đó bản thân cái được nói tới (vế A) thường bị giấu đi một cách kín đáo và chỉ hiện diện vế biểu đạt lâm thời (vế B).

Dấu hiệu nhận biết: Không có từ so sánh trực tiếp. Từ ngữ vốn chỉ đối tượng này được chuyển sang gọi tên đối tượng khác dựa trên quan hệ tương đồng (giống nhau) về hình thức, cách thức, phẩm chất hoặc cảm giác.

Tác dụng: Làm cho cái được nói tới có thêm ý nghĩa bổ sung sâu sắc, giúp nhấn mạnh và bộc lộ cảm xúc mãnh liệt; thể hiện những liên tưởng, ảo giác thoáng qua nhưng mang ý nghĩa cá thể hóa cao và gây ấn tượng mạnh mẽ cho người đọc.

Ví dụ:

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

(Quang Dũng, “Tây Tiến”)

Trong đoạn thơ, biện pháp ẩn dụ được sử dụng đầy tinh tế qua hai hình ảnh "quân xanh màu lá" và "dáng kiều thơm". Với cụm từ "quân xanh màu lá", Quang Dũng không so sánh trực tiếp mà ngầm chuyển sắc xanh của lá rừng sang gọi tên làn da xanh xao, tiều tụy vì sốt rét rừng, vì thiếu thốn gian khổ của người lính Tây Tiến. Cách ẩn dụ này vừa tránh được cảm giác bi thương khi gọi tên bệnh tật, đói khát, vừa gợi lên vẻ đẹp hào hùng, đầy khí phách qua hình ảnh "dữ oai hùm" đi liền sau đó, khiến người lính hiện lên không hề yếu đuối mà toát lên sức mạnh kiên cường, oai phong như chúa sơn lâm giữa núi rừng.

Đến hình ảnh "dáng kiều thơm", đây là một ẩn dụ giàu chất lãng mạn của những thanh niên “gác bút nghiên lên đường cứu nước”, gợi lên bóng dáng yêu kiều, thướt tha của thiếu nữ Hà thành trong giấc mộng của người lính giữa đêm khuya nơi biên ải xa xôi. Từ "thơm" vốn chỉ cảm giác khứu giác được ẩn dụ chuyển đổi cảm giác sang gợi tả vẻ đẹp dịu dàng, thanh khiết, khiến hình ảnh người con gái trở nên mơ hồ, huyền ảo nhưng vô cùng ấn tượng.

Nhờ hai lớp ẩn dụ ấy, đoạn thơ vừa khắc họa được vẻ đẹp bi tráng, ngang tàng của người lính Tây Tiến giữa hoàn cảnh chiến trường khắc nghiệt, vừa hé lộ thế giới tâm hồn lãng mạn, hào hoa, luôn khao khát tình yêu và vẻ đẹp cuộc sống nơi hậu phương của họ. Đồng thời, cách diễn đạt giàu tính ẩn dụ này còn tạo nên những liên tưởng độc đáo, mang đậm dấu ấn cá nhân trong hồn thơ Quang Dũng, để lại ấn tượng sâu đậm, khó phai trong lòng người đọc.

Biện pháp tu từ điệp ngữ trong thơ

Khái niệm: Là hình thức tu từ lặp lại một từ, cụm từ, hoặc một câu văn, câu thơ nhiều lần với dụng ý nghệ thuật cụ thể.

Dấu hiệu nhận biết: Sự xuất hiện lặp đi lặp lại một cách có chủ đích của các đơn vị ngôn ngữ giống nhau trong cùng một đoạn văn hoặc đoạn thơ.

Tác dụng: Nhấn mạnh ý nghĩa của hình ảnh; tạo nhịp điệu dồn dập, mạnh mẽ hoặc du dương, điều hòa tiết tấu cho lời văn thêm phần thông suốt.

Ví dụ:

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây súng ngửi trời

Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

(Quang Dũng, “Tây Tiến”)

Trong đoạn thơ, biện pháp điệp ngữ được thể hiện rõ qua việc lặp lại từ "dốc" trong câu thơ đầu và cụm từ "ngàn thước" trong câu thơ thứ ba. Việc điệp lại từ "dốc" hai lần trong cùng một câu, kết hợp với các từ láy giàu sức tạo hình như "khúc khuỷu", "thăm thẳm", đã nhấn mạnh và tô đậm sự hiểm trở, gập ghềnh, trùng điệp đến vô tận của những con đèo dốc nơi núi rừng Tây Bắc, khiến người đọc như hình dung được chặng đường hành quân gian truân, vất vả mà đoàn binh Tây Tiến phải vượt qua.

Đến cụm từ "ngàn thước", được điệp lại trong câu thơ "Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống", kết hợp với phép đối "lên cao" - "xuống", nhịp thơ như bị bẻ gãy làm đôi. Biện pháp đã mô phỏng chân thực hình thế núi non dựng đứng, khi thì vút lên cao chót vót, khi lại đổ dốc thẳng xuống sâu hun hút. Nhờ vậy, câu thơ không chỉ nhấn mạnh được sự trắc trở, dữ dội của địa hình Tây Bắc mà còn tạo nên nhịp điệu dồn dập, gân guốc, trúc trắc, giàu tính tạo hình, khiến người đọc như đang trực tiếp cảm nhận từng bước chân nhọc nhằn của người lính Tây Tiến giữa núi rừng hiểm trở. Đồng thời, chính nhịp điệu mạnh mẽ ấy cũng làm nổi bật hơn sự tương phản với câu thơ cuối "Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi" - toàn thanh bằng, nhẹ nhàng, êm ả như một khoảng lặng bình yên, tạo nên sự hài hòa, điều tiết tiết tấu cho cả đoạn thơ thêm phần sinh động và giàu chất nhạc.

Xem thêm:

Biện pháp tu từ đối trong thơ

Khái niệm: Là phương thức tổ chức lời văn bằng cách điệp cú pháp nhằm tạo ra hai vế câu tương đối hoàn chỉnh, được viết thành hai dòng cân xứng, sóng đôi với nhau về từ loại, âm thanh và ý nghĩa.

Dấu hiệu nhận biết: Hai vế trong câu có sự cân xứng về số lượng chữ, đối ứng chặt chẽ về từ loại (thực từ đối thực từ, hư từ đối hư từ), đối thanh (bằng đối trắc) và đối ý (tương phản hoặc tương đồng).

Tác dụng: Tạo ra vẻ đẹp nhịp nhàng, cân đối, hài hòa cho câu thơ, lời văn; giúp soi sáng, làm nổi bật hai mặt của một tình thế, tính cách nhân vật hoặc bộc lộ trọn vẹn tình cảm bồi hồi của tác giả.

Ví dụ:

Gặp thời đồ điếu công thành dễ,

Lỡ vận anh hùng hận xót xa.

Phò chúa dốc lòng nâng trục đất,

Tẩy binh khôn lối kéo Ngân Hà.

(Đặng Dung, “Cảm hoài”)

Trong bài thơ "Cảm hoài" (Thuật hoài) của Đặng Dung, phép đối được vận dụng tài tình qua cặp câu thực và luận, góp phần thể hiện sâu sắc tâm trạng và khí phách của nhân vật trữ tình. Ở cặp câu thực "Gặp thời đồ điếu công thành dễ / Lỡ vận anh hùng hận xót xa", tác giả đã tạo nên thế đối chỉnh cả về ý lẫn từ: "gặp thời" (thuận lợi, may mắn) đối lập với "lỡ vận" (rủi ro, nghịch cảnh); "đồ điếu" (người hàng thịt, kẻ câu cá) đối lập với "anh hùng" (người có tài năng, chí khí lớn); "công thành dễ" (lập công danh dễ dàng) đối lập với "hận xót xa" (ôm hận, đau đớn vì chí lớn không thành). Phép đối này đã nhấn mạnh quy luật nghiệt ngã, đầy bất công của thời thế: khi may mắn thì kẻ tầm thường cũng dễ dàng lập nên công danh, còn khi lỡ vận thì bậc anh hùng dù tài cao chí lớn vẫn phải ôm nỗi hận nghìn thu. Qua đó, câu thơ bộc lộ nỗi u uất, chua xót của một trang anh hùng sinh bất phùng thời.

Đến cặp câu luận "Phò chúa dốc lòng nâng trục đất / Tẩy binh khôn lối kéo Ngân Hà", phép đối tiếp tục được sử dụng với "phò chúa" đối cùng "tẩy binh" (đều là hành động, chí nguyện của người anh hùng), "dốc lòng" đối với "khôn lối" (một bên là quyết tâm sắt đá, một bên là sự bất lực, không tìm ra cách), và đặc biệt là hai hình ảnh kỳ vĩ mang tầm vũ trụ "nâng trục đất" đối với "kéo Ngân Hà". Phép đối cùng những hình ảnh phóng đại, tráng lệ này đã tô đậm hoài bão lớn lao, phi thường của nhân vật trữ tình - khát vọng phò vua giúp nước, xoay chuyển càn khôn, rửa sạch binh đao để đem lại thái bình; đồng thời cũng ngầm bộc lộ bi kịch của một con người mang chí lớn ngang tầm vũ trụ nhưng lại bất lực trước thời cuộc, không tìm được con đường để thực hiện lý tưởng ấy. Nhờ phép đối chặt chẽ, cân xứng ở cả hai cặp câu, bài thơ vừa tạo nên nhịp điệu trang trọng, hài hòa, vừa làm nổi bật khí phách hào hùng song hành cùng nỗi bi phẫn sâu sắc của một bậc anh hùng thất thế, qua đó mang đến ấn tượng mạnh mẽ và thấm thía cho người đọc.

Luyện tập phân tích biện pháp tu từ trong thơ

Đề bài: Xác định và phân tích tác dụng của biện pháp tu từ trong các câu thơ sau:

Bài 1:

Một đàn thằng hỏng đứng mà trông,

Nó đỗ khoa này có sướng không!

Trên ghế bà đầm ngoi đít vịt,

Dưới sân ông cử ngỏng đầu rồng.

(Tú Xương, “Giễu người thi đỗ”)

Gợi ý giải:

  • Biện pháp tu từ: Phép đối (câu 3 và 4)

  • Tác dụng: Tạo nhịp điệu cho câu thơ; Mang ý nghĩa châm biếm, trào phúng sâu sắc. Qua phép đối, Tú Xương giễu cợt sự lố lăng, sự đổi thay thời thế buổi giao thời.

Bài 2:

Gìn vàng giữ ngọc cho hay

Cho đành lòng kẻ chân mây cuối trời

(Nguyễn Du, “Đoạn trường tân thanh”)

Gợi ý giải:

  • Biện pháp tu từ: ẩn dụ (Trong đó, vàng, ngọc ẩn dụ chỉ thân thể, sức khoẻ và tình yêu quý giá của con người).

  • Tác dụng: Thể hiện tình yêu chân thành, sâu sắc của Thúy Kiều; Phản ánh nỗi đau đớn, bất lực trước hoàn cảnh chia ly đột ngột trong xã hội cũ

Bài 3:

Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm

Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ

(Tế Hanh, “Quê hương”)

Gợi ý giải:

  • Biện pháp tu từ: nhân hoá (Chiếc thuyền được miêu tả với các hành động, trạng thái như một con người: biết "mỏi", biết "nằm" nghỉ ngơi và biết "nghe").

  • Tác dụng: Khiến cho hình ảnh con thuyền trở nên sinh động và gần gũi hơn, giống như một ngư dân trở về nghỉ ngơi sau những giờ lao động vất vả; Cho thấy sự gắn bó sâu sắc và tình yêu quê hương tha thiết của nhà thơ Tế Hanh với làng chài.

Xem thêm: Yếu tố siêu thực trong thơ là gì? Đặc điểm, tác dụng và ví dụ.

Kết luận

Bài viết đã cung cấp những nội dung quan trọng về biện pháp tu từ trong thơ, từ khái niệm, cách nhận diện đến tác dụng, đồng thời gợi ý cách vận dụng kiến thức vào quá trình đọc hiểu và phân tích tác phẩm. Khi nắm vững những kiến thức này, học sinh THPT sẽ có cơ sở để tiếp cận ngôn ngữ thơ một cách chủ động, hiểu sâu hơn ý nghĩa của hình ảnh, cảm xúc và tư tưởng được thể hiện trong từng câu thơ, đồng thời nâng cao khả năng phân tích và cảm thụ văn học.

Để rèn luyện thêm, học sinh có thể thường xuyên đọc và ghi lại các biện pháp tu từ mà mình phát hiện được, tự phân tích tác dụng của chúng trong những ngữ cảnh khác nhau, từ đó hình thành khả năng vận dụng linh hoạt kiến thức khi làm bài.

Nguồn tham khảo

Đánh giá

(0)

Gửi đánh giá

0

Bình luận - Hỏi đáp

Bạn cần để có thể bình luận và đánh giá.
Đang tải bình luận...