Phương pháp làm tất cả 11 dạng câu hỏi trong IELTS Reading Academic Module

Tổng hợp chi tiết phương pháp kèm ví dụ làm bài IELTS Reading cho tất cả 11 dạng câu hỏi trong bài thi IELTS Reading.
Published on
phuong-phap-lam-tat-ca-11-dang-cau-hoi-trong-ielts-reading-academic-module

Giới thiệu chung

IELTS Reading là bài thi đánh giá kỹ năng đọc của thí sinh gồm 40 câu hỏi, thời gian làm bài 60 phút với ba bài đọc. Để hoàn thành tốt bài thi IELTS Reading, thí sinh không chỉ cần có khả năng ngôn ngữ mà còn cần trang bị thêm các phương pháp phù hợp để có thể xử lý từng dạng câu hỏi một cách hiệu quả nhất.

Giới thiệu chung về IELTS Reading

  1. Thời gian thi: 60 ohút

  2. Số câu hỏi: 40 câu

  3. Số phần thi: 3 bài đọc với độ dài khoảng 1500 từ

Các dạng bài Reading IELTS

  • Dạng Multiple Choice 

  • Dạng True, False và Not Given: 

  • Dạng bài Yes/No/Not Given

  • Dạng Matching Information

  • Dạng bài Matching Headings

  • Dạng bài Matching Features

  • Dạng Matching Sentence Ending

  • Dạng Sentence Completion

  • Dạng Notes/Table/Flow Chart Completion

  • Dạng bài Diagram Labelling

  • Dạng bài Short Answer Questions

Dạng bài Multiple Choice

Giới thiệu dạng bài Multiple Choice

Multiple Choice là dạng câu hỏi trắc nghiệm. Thí sinh sẽ dựa vào các đáp án đã cho để chọn đáp án đúng. Dạng câu hỏi này khá giống với dạng câu hỏi True, False, Not Given. Bài thi yêu cầu thí sinh phải lựa chọn đáp án đúng nhất từ 4 phương án A,B,C,D hoặc hai đáp án từ năm phương án A,B,CD,E hoặc ba câu trả lời từ bảy phương án A,B,C,D,E,F,G. 

image-altIELTS Reading Multiple Choice

Các câu hỏi có thể liên quan đến việc hoàn thành nội dung của một câu trong đó câu hỏi là phần được đưa ra và các phương án là lựa chọn để hoàn thành câu đó. Câu hỏi có thể liên quan đến các câu hoàn chỉnh và thí sinh phải đi tìm câu trả lời đúng. Điều quan trọng khi làm dạng bài này đó là lựa chọn đáp án đúng nhất với nội dung trong bài IELTS Reading.

Kỹ năng yêu cầu:

  • Scan tìm thông tin chi tiết có liên quan tới câu hỏi và đáp án trong văn bản

  • Đọc hiểu và nắm được thông tin đề cập trong văn bản 

Giới thiệu Multiple Choice dạng thông tin tổng quan 

Multiple Choice dạng thông tin tổng quan yêu cầu thí sinh trả lời câu hỏi hoặc hoàn thành câu văn dựa trên một phần nội dung trong bài đọc (thường là một đoạn). Dạng câu hỏi này thường xuất hiện trong bài đọc thứ 3 của bài thi IELTS Reading. Trong văn bản, câu hỏi trắc nghiệm của bài thường yêu cầu người đọc hiểu được quan điểm, mục đích của tác giả khi đề cập đến một vấn đề nào đó. Để giải quyết được dạng câu hỏi này, người đọc cần được trang bị khả năng đọc hiểu và đưa ra kết luận dựa trên những chi tiết trong văn bản.   

Ví dụ Multiple Choice dạng thông tin tổng quan

What is the writer suggesting about computer-produced works in the first paragraph?

  1. People’s acceptance of them can vary considerably.

  2. A great deal of progress has already been attained in this field.

  3. They have had more success in some artistic genres than in others.

  4. The advances are not as significant as the public believes them to be.

Từ “suggesting” ngụ ý rằng người đọc phải tìm ra ý kiến cá nhân của tác giả về “computer-produced works” dựa trên những chi tiết trong đoạn văn thứ nhất. Lưu ý rằng hầu hết thông tin trong bài đọc số 3 đề là quan điểm, ý kiến của người viết, do đó người đọc không cần tìm các từ “writer” hay “suggesting” mà nên ngầm hiểu rằng các chi tiết trong bài đều là gợi ý của tác giả. 

What point does Simon Colton make in the fourth paragraph?

  1. Software-produced art is often dismissed as childish and simplistic.

  2. The same concepts of creativity should not be applied to all forms of art.

  3. It is unreasonable to expect a machine to be as imaginative as a human being.

  4. People tend to judge computer art and human art according to different criteria.

Trong câu hỏi này, ý kiến không còn là của tác giả, thay vào đó là một nhân vật được tác giả đề cập đến để làm dẫn chứng. Do đó người đọc cần khoanh vùng câu trả lời tại những nơi có tên nhân vật, hoặc ngôn ngữ ám chỉ nhân vật như “he says”, “he points out”.  

Như vậy, bất kể ý kiến cần tìm là của tác giả hay một nhân vật cụ thể, Multiple Choice dạng thông tin tổng quan luôn đòi hỏi người đọc nắm được hàm ý của nội dung trong bài đọc và nhận diện được lựa chọn tương xứng với nội dung đó nhất trong các lựa chọn đề bài đưa ra.

Giới thiệu Multiple Choice dạng ý kiến tác giả

Dạng câu hỏi trắc nghiệm về ý kiến tác giả yêu cầu thí sinh xác định một trong bốn lựa chọn đưa ra (A,B,C,D), lựa chọn nào là chính xác và thống nhất với ý kiến cá nhân của tác giả đã thể hiện trong bài đọc.

Ví dụ:

Câu hỏi: According to the author, what distinguishes rewilding from other environmental campaigns? (Theo tác giả, điều gì làm phân biệt “rewilding” và các chiến dịch môi trường khác?

  1. Its objective is more achievable (Mục tiêu của nó dễ thực hiện hơn) 

  2. Its supporters are more articulate (Những người ủng hộ nó có khả năng phát biểu rõ ràng hơn) 

  3. Its positive message is more appealing (Thông điệp tích cực của nó hấp dẫn hơn) 

  4. It is based on sounder scientific principles. (Nó dựa trên các nguyên tắc khoa học tốt hơn)  

(Cambridge IELTS 12) 

Các câu hỏi về ý kiến tác giả thường có các hình thức như sau:

  • According to the writer/author, …

  • The writer says that …,

  • What point does the writer emphasize in the first/second/third.. paragraph? 

  • What view does the author express in the first/second/third.. paragraph? 

  • What point does the writer make about …?  

  • What does the writer suggest about …?

Thí sinh có thể thấy trong các câu hỏi trên đều xuất hiện hai từ là “writer” hoặc “author”, đây cũng có thể được xem là dấu hiệu nhận biết dạng câu hỏi về ý kiến tác giả. 

Hướng dẫn làm bài dạng bài Multiple choice 

Khi gặp các câu hỏi dạng bài Multiple choice, thí sinh có thể tiếp cận theo các bước sau đây:

  1. Gạch chân từ khóa trong câu hỏi.

  2. Xác định vị trí thông tin có trong bài đọc thông qua các từ khóa đã xác định. Lưu ý, sử dụng kỹ năng

  3. Xác định và gạch chân các từ khóa có sẵn trong câu trả lời và cố gắng hiểu các đáp án đó ( re- phrase )

  4. Đọc kỹ đoạn thông tin đã xác định được thật kỹ và đối chiếu với các đáp án. Lưu ý, nên áp dụng phương pháp loại trừ nếu các đáp án quá giống nhau.

Cùng phân tích chi tiết chiến lược qua bài đọc sau:

Choose the correct letter A, B, C or D.

What does the writer say about the environmental impact of the work at Lake Magadi?

A It has little effect on the area.

B It has been going on too long.

C It has been well-planned.

D It causes harm to the birds.

For more than 60 years, the Magadi Soda Company has been taking soda ash from Lake Magadi, south west of Nairobi, Kenya. The operation was set up without particular consideration for the natural environment but, over the years, it has proved harmless. The factory and town which might cause disturbance are located out of the way, about 15 kilometers from the area most densely populated by birds. The factory effluent consists only of returning lake water, and the gaseous emissions are only carbon dioxide and water.

Cách làm chi tiết:

  1. Xác định từ khóa trong câu hỏi: ‘’environmental impact’’; ‘’work’’ và ‘’Lake Magadi’’.

  2. Xác định đoạn thông tin: Ngay trong câu đầu tiên ta thấy có từ ‘’ Lake Magadi’’. Qua câu thứ 2 ta thấy ‘’the operation’’.

  3. Quay lại các đáp án cho sẵn, ta xác định từ khóa ở các đáp án đó.

  4. Đáp án A: little effect

  5. Đáp án B: going on too long

  6. Đáp án C: well planned

  7. Đáp án D: cause harm to bird

  8. Đọc kỹ đoạn thông tin đã xác định được: ‘’ Hơn 60 năm, công ty Magadi Soda đã lấy đi soda ash từ hồ Magadi…. Sự khai thác này ( the operation ) đã được diễn ra mà không có bất cứ sự quan tâm nào đến môi trường, NHƯNG, những năm qua, nó đã chứng minh VÔ HẠI. ‘’

  9. So sánh với các đáp án đã cho, thì đáp án A chuẩn nhất. Nhưng để chắc chắn, hãy tiếp tục đối chiếu với các đáp án còn lại.

  10. Đáp án B: Tác giả có đề cập đến quãng thời gian 60 năm, nhưng hoàn toàn không nói đến việc nó dài hay ngắn.

  11. Đáp án C: Không có thông tin về việc well-planned

  12. Đáp án D: Tác giả có đề cập đến ‘’bird’’, nhưng không nhắc đến việc làm hại đến chúng.

Hướng dẫn làm Multiple Choice dạng thông tin tổng quan

Bước 1: Xác định nội dung chủ đạo của câu hỏi

Xác định nội dung chủ đạo của câu hỏi: Nội dung chủ đạo thường là danh từ hoặc cụm danh từ tạo nên sự đặc trưng cho câu hỏi. 

Xét ví dụ ở trên:

What is the writer suggesting about computer-produced works in the first paragraph?

Nội dung chủ đạo: “computer-produced works” – các tác phẩm được tạo ra từ máy tính

Bước 2: Đọc hiểu nội dung của đoạn văn đã được định vị trong câu hỏi

Trước khi xem qua các lựa chọn, người đọc nên đọc lướt văn bản và tìm những chi tiết tác giả muốn chứng minh trong đoạn văn, bao gồm từ vựng liên quan nội dung chủ đạo, và những chi tiết liên quan, sau đó đưa ra kết luận tổng quan nếu có thể. 

The Painting Fool is one of a growing number of computer programs which, so their makers claim, possess creative talents. Classical music by an artificial composer has had audiences enraptured, and even tricked them into believing a human was behind the score. Artworks painted by a robot have sold for thousands of dollars and been hung in prestigious galleries. And software has been built which creates art that could not have been imagined by the programmer.

Phân tích: 

  • Từ vựng liên quan nội dung chủ đạo “computer-produced works” : computer programs, artificial composer, robot, software. 

  • Chi tiết liên quan nội dung chủ đạo: creative talents, classical music – enraptured, artworks – thousands of dollars – prestigious galleries, software – could not have been imagined. 

  • Kết luận tổng quan: Các tác phẩm tạo ra từ máy tính, ví dụ như âm nhạc, mỹ nghệ, phần mềm đều đạt được những thành tựu tích cực. 

Bước 3: Đọc các lựa chọn, xác định nội dung chủ đạo và đánh giá từng lựa chọn. 

Đọc các lựa chọn, xác định nội dung chủ đạo và đánh giá từng lựa chọn.

Vì các lựa chọn đều được paraphrase kỹ lưỡng và gần như đều liên quan đến nội dung chủ đạo, người đọc rất khó đưa ra câu trả lời chính xác ngay sau khi đọc đoạn văn. Để tăng tính chính xác, người đọc nên đọc từng lựa chọn, phân tích nội dung chủ đạo và đánh giá chúng.

Xét lại ví dụ trên:

The Painting Fool is one of a growing number of computer programs which, so their makers claim, possess creative talents. Classical music by an artificial composer has had audiences enraptured, and even tricked them into believing a human was behind the score. Artworks painted by a robot have sold for thousands of dollars and been hung in prestigious galleries. And software has been built which creates art that could not have been imagined by the programmer.

What is the writer suggesting about computer-produced works in the first paragraph?

A. People’s acceptance of them can vary considerably.

Nội dung chủ đạo: “People’s acceptance” (sự chấp thuận của công chúng) 

Đánh giá: “People’s acceptance” không hề được đề cập. Mặc dù trong đoạn văn có chứa các từ vựng số nhiều chỉ người như “makers”, “audiences”, các nhóm người này không thể hiện sự chấp thuận hay phản đối trong văn bản.  

B. A great deal of progress has already been attained in this field.

Nội dung chủ đạo: “Progress” (Tiến độ)

Đánh giá: Dù không có paraphrase cụ thể cho từ “progress”, có thể thấy “progress” được thể hiện xuyên suốt đoạn văn thông qua thành tựu của nhiều loại hình nghệ thuật khác nhau: classical music – enraptured, artworks – thousands of dollars – prestigious galleries, software – could not have been imagined. Bên cạnh đó, những thành tựu này đã xảy ra, tức đã được “attain” (đạt được). Điều này chứng minh lựa chọn B khái quát chính xác nội dung của đoạn 1.

C. They have had more success in some artistic genres than in others.

Nội dung chủ đạo: “Success” (Sự thành công)

Đánh giá: Sự “success” cũng được ngụ ý xuyên suốt bài, tương tự như “ progress” ở lựa chọn B. Tuy nhiên, đoạn văn không hề chứa yếu tố so sánh giữa các loại hình nghệ thuật. Do đó từ “more” trên đã giúp chứng minh rằng lựa chọn C không phải là đáp án.

D. The advances are not as significant as the public believes them to be.

Nội dung chủ đạo: “Advances” (Sự phát triển), “The public” (Công chúng)

Đánh giá: Tương tự lựa chọn A, đoạn văn không hề đề cập ý kiến của công chúng, do vậy lựa chọn D cũng không thể là đáp án chính xác. 

Như vậy, chỉ có lựa chọn B phản ánh đầy đủ nội dung của đoạn văn và đây là đáp án chính xác nhất. 

Hướng dẫn làm Multiple Choice dạng ý kiến tác giả

Bước 1: Đọc câu hỏi (không đọc các lựa chọn) và gạch chân các từ khóa quan trọng. 

Bước 2: Dựa vào keywords, tìm và đọc đoạn văn có chứa thông tin liên quan một cách chi tiết.

Bước 3: Đọc các lựa chọn (A,B,C,D) và nắm bắt được ý chính của từng lựa chọn.   

Bước 4: Đối chiếu lần lượt các lựa chọn với ý kiến tác giả trong bài đọc. Tìm ra sự trùng khớp để chọn đáp án chính xác.   

  • Lưu ý trong bước 1: Thí sinh không đọc câu hỏi và câu trả lời cùng một lúc để tránh phân tâm trong quá trình đọc bài. Bước đọc hiểu các lựa chọn được thực hiện sau khi thí sinh đã đọc xong đoạn văn có chứa thông tin liên quan. 

  • Lưu ý trong bước 4: Khi xác định được các đáp án sai, thí sinh nên gạch bỏ lần lượt các đáp án sai này để tránh nhầm lẫn khi chuyển đổi câu trả lời vào giấy viết đáp án. 

Minh họa các bước giải câu hỏi trắc nghiệm về ý kiến tác giả trong bài Music and the emotions (IELTS Cambridge 12, test 7), câu hỏi 32-35.  

dang-bai-multiple-choice-trong-ielts-reading-IELTS-Cambridge-12-test-dang-bai-multiple-choice-trong-ielts-reading-IELTS-Cambridge-12-test-7-2IELTS Cambridge 12, test 7 – Câu 32

Đọc câu hỏi và gạch chân keywords. 

What point does the writer emphasize in the first paragraph? 

(Tác giả nhấn mạnh điều gì trong đoạn văn đầu tiên?) 

Đây là câu hỏi yêu cầu hiểu nội dung chính của toàn bộ một đoạn => thí sinh cần đọc chi tiết toàn bộ đoạn văn yêu cầu.  

Tìm và đọc chi tiết đoạn văn có chứa thông tin liên quan. 

Trong câu hỏi có từ khóa “first paragraph” vậy đoạn văn đầu tiên là đoạn cần được đọc.

dang-bai-multiple-choice-trong-ielts-reading-IELTS-Cambridge-12-test-7-3

Ba câu đầu của đoạn văn trên đưa ra thông tin về việc mặc dù âm nhạc là một loại hình nghệ thuật trừu tượng, không có ngôn ngữ hoặc ý tưởng rõ ràng, tuy nhiên âm nhạc vẫn khiến chúng ta cảm động sâu sắc (manages to touch us deeply). Các câu sau của đoạn đưa ra các minh họa và ví dụ về việc chúng ta có cảm giác khi nghe nhạc, đoạn văn đề cập đến những thay đổi ở các bộ phận của cơ thể như đồng tử trong mắt (pupils), mạch và huyết áp (pulse and blood pressure), da (skin), brain (não). Câu cuối cùng đoạn văn đưa ra kết luận âm thanh thì khuất động nguồn gốc sinh học của chúng ta. 

Đọc các lựa chọn (A,B,C,D) và nắm bắt được ý chính của từng lựa chọn.

A. how dramatically our reactions to music can vary

Lựa chọn A nói đến việc phản ứng của chúng ta với âm nhạc có thể thay đổi đáng kể như thế nào.   

B. how intense our physical responses to music can be

Lựa chọn B nói về cường độ các phản ứng thể chất của cơ thể đối với âm nhạc. 

C. how little we know about the way that music affects us

Lựa chọn C nói về việc chúng ta biết rất ít về cách mà âm nhạc ảnh hưởng đến chúng ta. 

D. how much music can tell us about how our brains operate 

Lựa chọn D nói về việc âm nhạc có thể cho chúng ta biết bao nhiêu về cách mà não bộ hoạt động.

Đối chiếu lần lượt các lựa chọn với ý kiến tác giả trong bài đọc. Tìm ra sự trùng khớp để chọn đáp án chính xác.  

Đối chiếu với lựa chọn B, đoạn văn có đề cập đến phản ứng của các bộ phận cơ thể như mắt, da, não và chân, yếu tố này trùng khớp với ý “physical responses” (phản ứng thể chất). Bên cạnh đó, ở câu ba trong đoạn nói đến việc âm nhạc ảnh hưởng sâu sắc (manages to touch us deeply), ở đây trạng từ “deeply” chỉ mức độ sâu sắc trùng khớp với ý “how intense” (cường độ). Lựa chọn A có đề cập tới phản ứng với âm nhạc, tuy nhiên đoạn văn không đưa ra thông tin về sự thay đổi đáng kể như thế nào. Đoạn văn không đề cập đến việc chúng ta biết ít hay biết nhiều như ý ở lựa chọn C. Lựa chọn D có chi tiết “brains” (não bộ) được đề cập trong đoạn nhưng đây chỉ là một ví dụ minh họa nhỏ chứ không phải ý chính của cả đoạn. Vậy đáp án chính xác là B.   

image-altIELTS Cambridge 12, test 7 – Câu 33

Đọc câu hỏi và gạch chân keywords. 

What view of the Montreal study does the writer express in the second paragraph?

(Người viết thể hiện quan điểm nào về cuộc nghiên cứu ở Montreal trong đoạn văn thứ hai?) 

Thí sinh cần xác định đối tượng được tối tượng được hỏi là “Montreal study”, người đưa ra ý kiến là “writer” (tác giả) và vị trí thông tin cần tìm là “second paragraph” (đoạn thứ 2). 

Tìm và đọc chi tiết đoạn văn có chứa thông tin liên quan. 

dang-bai-multiple-choice-trong-ielts-reading-IELTS-Cambridge-12-test-7- 5

Trong đoạn văn trên, ở hai câu đầu tiên, tác giả giới thiệu về việc cuộc nghiên cứu ở Montreal đã đánh dấu một cột mốc quan trọng trong việc tiết lộ nền tảng chính xác của “tác nhân kích thích mạnh mẽ” là âm nhạc. Mặc dù nghiên cứu này có sử dụng nhiều công nghệ đắt đỏ nhưng bản chất thì khá đơn giản. Các câu sau đó tác giả mô tả quá trình thực hiện nghiên cứu. Và nhờ có ứng dụng của PET và fMRT, các nhà nghiên cứu đã có thể toàn bộ bức tranh của âm nhạc trong não bộ một cách chính xác. Và điều đầu tiên họ tìm ra là âm nhạc kích thích quá trình tạo ra “dopamine” trong các vùng của bộ não. Tuy nhiên thì phát hiện này không có gì đáng ngạc nhiên. 

Đọc các lựa chọn (A,B,C,D) và nắm bắt được ý chính của từng lựa chọn.

A. Its aims were innovative.

Lựa chọn A cho rằng mục đích của nghiên cứu mang tính sáng tạo. 

B. The approach was too simplistic.

Lựa chọn B cho rằng cách tiếp cận quá đơn giản. 

C. It produced some remarkably precise data.

Lựa chọn C cho rằng nghiên cứu đưa ra các dữ liệu chính xác một cách đáng kể

D. The technology used was unnecessarily complex.

Lựa chọn D cho rằng công nghệ được sử dụng một cách phức tạp không cần thiết. 

Đối chiếu lần lượt các lựa chọn với ý kiến tác giả trong bài đọc. Tìm ra sự trùng khớp để chọn đáp án chính xác. 

Đối chiếu lựa chọn A, câu cuối cùng của đoạn 2 tác giả có đề cập “this finding isn’t particularly surprising” (Phát hiện này không có gì đáng ngạc nhiên) => lựa chọn A trái ngược với ý kiến tác giả. 

Lựa chọn B cho rằng cách tiếp cận thì quá đơn giản (too simplistic), trong bài đọc tác giả có đưa ra ý kiến rằng “the experiment itself was rather straightforward” (bản thân thí nghiệm thì khá đơn giản). Thí sinh có thể nhầm lẫn hai câu này có ý tương tự nhau, tuy nhiên, từ “simplistic” trong lựa chọn mang nghĩa tiêu cực (đơn giản nhưng không có hiệu quả hoặc làm cho một thứ gì đó phức tạp trở nên đơn giản bằng cách bỏ qua tất cả các phần quan trọng). Ngược lại, tác giả sử dụng từ “straightforward” mang nghĩa tích cực (đơn giản nhưng rõ ràng và dễ hiểu) => chưa thống nhất với ý kiến tác giả. 

Đối chiếu lựa chọn C, cụm từ remarkably precise data có ý nghĩa tương đồng với cụm “impressively exact and detailed portrait of music” mà tác giả đề cập ở câu thứ 5 của đoạn 2 => trùng khớp với ý kiến tác giả

Đối chiếu lựa chọn D, trong bài đọc tác giả chỉ đề cập đến việc sử dụng nhiều công nghệ đắt đỏ (involved plenty of fancy technology)  và nhờ vào sự kết hợp giữa PET và fMRT mà các nhà nghiên cứu thu thập được dữ liệu chính xác => thông tin không trùng khớp. 

Vậy đáp án chính xác là C. 

Một số lưu ý khi làm dạng bài Multiple Choice

Khi làm dạng bài Multiple Choice trong IELTS Reading, người đọc cần lưu ý một số lỗi sai thường gặp sau:

Hiểu sai yêu cầu của câu hỏi

Đây là một trong những lỗi phổ biến nhất mà các thí sinh thường gặp ở dạng bài Multiple Choice trong IELTS Reading. Thông thường dạng bài trắc nghiệm rất quen thuộc với các thí sinh, chính vì vậy nhiều thí sinh thường chỉ đọc lướt qua câu hỏi.

Việc dành quá ít thời gian để đọc câu hỏi có thể khiến thí sinh chưa hiểu đầy đủ yêu cầu của câu hỏi, hoặc thậm chí là hiểu sai (misinterpret) yêu cầu của câu hỏi. Hãy nhớ rằng tất cả các thông tin trong câu hỏi đều là những thông tin có giá trị (valid information), giúp chúng ta định hướng tìm được câu trả lời.

Adapted-from-Reading -Passage-3Ví dụ 1: (Adapted from Reading Passage 3, Test 7, Cambridge IELTS 12)

 

Ở câu hỏi 34, ta cần phân tích yêu cầu đề bài kỹ trước khi tìm thông tin liên quan. Câu hỏi yêu cầu tìm thông tin về điều gì (what) mà tác giả (who) thấy thú vị về kết quả của Montreal study. Nếu không đọc kỹ câu hỏi, thí sinh có thể chỉ tìm thông tin liên quan đến quan điểm của tác giả về kết quả của Montreal study, nhưng yêu cầu đề bài là tìm quan điểm mà tác giả cảm thấy thú vị (interesting) về chủ thể này.

Để khắc phục lỗi này, thí sinh nên đảm bảo dành khoảng thời gian nhất định để đọc – hiểu câu hỏi, cho đến khi nắm rõ được yêu cầu của câu hỏi. Luyện tập theo trình tự: đọc câu hỏi và xác định câu hỏi yêu cầu tìm thông tin về chủ thể nào.

Chú ý các từ để hỏi như “who/ what/ where/ when/ why” và chủ thể được yêu cầu xác định. Nếu chưa thể hiểu câu hỏi, cố gắng đơn giản hoá và đặt lại câu hỏi bằng từ ngữ đơn giản hơn (rephrase the question) cho đến khi hiểu được yêu cầu chính của câu hỏi.

Trả lời câu hỏi dựa trên kiến thức và kinh nghiệm cá nhân

Sau khi đọc câu hỏi của bài đọc ở một số chủ đề quen thuộc, các thí sinh thường dự đoán câu trả lời ngay lập tức dựa trên kinh nghiệm cá nhân về vấn đề đó. Việc này sẽ khiến thí sinh có xu hướng chọn những đáp án tương thích với quan điểm hoặc kinh nghiệm cá nhân rút ra từ những bài đọc tương tự, và không tập trung hay chủ quan trong việc tìm được thông tin chính xác từ bài đọc để trả lời cho câu hỏi.

Các câu hỏi trong IELTS Reading nhằm mục đích đánh giá khả năng đọc hiểu, không đánh giá kiến thức của thí sinh nên dù thông tin có đúng với kiến thức nhưng không đúng với nội dung bài thì cũng không được coi là đáp án đúng.

Adapted-form-Reading-Passage-1-Practice-Test-1-Road-to-IELTSVí dụ 2: Adapted from Reading Passage 1 – Practice Test 1 – Road to IELTS

 

Ở câu hỏi 9, yêu cầu câu hỏi là “để giảm cân, chúng ta nên làm gì”. Thí sinh không nên chọn đáp án dựa trên kiến thức và kinh nghiệm của bản thân về việc giảm cân, mà phải tìm thông tin về cách giảm cân được đề cập trong bài đọc.

Để khắc phục lỗi này, thí sinh nên tập trung vào việc phân tích câu hỏi thật kỹ, sau đó tìm những thông tin liên quan từ bài đọc phục vụ cho việc trả lời câu hỏi. Thí sinh có thể tìm hiểu và áp dụng kỹ thuật nhận diện từ khóa (keywords) trong câu hỏi. Từ khóa (Keywords) trong câu hỏi có thể được chia thành 3 loại từ khoá:

  • Từ khóa khó thay thế (tên riêng và số)

  • Từ khoá dễ thay thế (danh từ)

  • Từ khóa chìm (động từ, tính từ và từ chủ đề bài đọc).

Thứ tự ưu tiên khi tìm thông tin liên quan đến câu hỏi: tìm từ khóa khó thay thế, sau đó đọc 1-2 câu trước sau từ khoá để tìm các từ khóa dễ thay thế liên quan. Trong trường hợp câu không chứa từ khóa khó thay thế, cố gắng tìm những từ hoặc cụm từ đồng nghĩa với các từ khoá dễ thay thế và sử dụng cả từ khóa chìm vào việc tìm các thông tin liên quan.

Chưa đọc-hiểu tất cả các lựa chọn trước khi chọn đáp án

Cũng như việc nắm được yêu cầu của câu hỏi, việc đọc hiểu các đáp án cũng giữ vai trò quan trọng. Tuy nhiên, việc đọc hiểu các lựa chọn không nên được thực hiện cùng lúc với việc đọc hiểu câu hỏi, vì điều này sẽ khiến thí sinh dễ bị phân tâm hơn. Việc đọc-hiểu các lựa chọn nên được thực hiện sau khi thí sinh đã tìm được thông tin liên quan đến câu hỏi trong bài đọc. 

Để khắc phục lỗi này,  đừng chọn câu trả lời chỉ vì đáp án đó có chứa 1 từ vựng lạ chưa từng gặp qua. Hoặc ngược lại, chọn đáp án duy nhất mà thí sinh có thể hiểu nghĩa trọn vẹn tất cả các từ vựng. Bên cạnh đó, việc đoán nghĩa các từ vựng khó dựa trên ngữ cảnh và các yếu tố như tiền tố – hậu tố của từ (prefix or suffix) sẽ rất hữu ích trong trường hợp này. Một số tiền tố của danh từ, động từ và tính từ thường gặp trong IELTS Reading như:

  • “dis-”: không => discord (không đồng thuận), disregard (không chú tâm)

  • “mis-”: nhầm, sai => misbehave (cư xử sai cách), misunderstand (hiểu sai)

  • “under-”: thấp, dưới mức bình thường => underestimate (đánh giá thấp), underpaid (được trả lương thấp), understaffed (không đủ nhân viên)

  • “mono-”: một, duy nhất => monopoly (độc quyền), monolingual (duy nhất một ngôn ngữ)

Sau đó thí sinh nên áp dụng phương pháp loại trừ để chọn được đáp án phù hợp nhất, giống với đại ý của các thông tin rút ra từ bài đọc.

Read the paragraph below and answer the question:

Adapted-from-Reading-Passage-3-Test-1-Cambridge-IELTS-15Ví dụ 3: (Adapted from Reading Passage 3 – Test 1 – Cambridge IELTS 15)

 

Ta nhận thấy ở đáp án B chứa từ “misunderstand” là từ vựng lạ trong câu, nhưng dựa vào kiến thức về tiền tố “mis-” có nghĩa là sai hay lầm, ta có thể đoán nghĩa của từ trong ngữ cảnh này là “hiểu sai” về bản chất của khám phá (misunderstand the nature of exploration).

Không nên chọn đáp án là câu B chỉ vì câu có chứa một từ la chưa từng gặp hoặc ngược lại loại trừ đáp án này ngay từ đầu vì có chứa từ vựng lạ này. Thí sinh nên cố gắng phân tích để đọc hiểu đại ý của toàn câu.

Không scan thông tin theo trình tự các ý trong bài

Đôi khi thí sinh không để ý đến trình tự các thông tin scan từ bài đọc nên đi theo trình tự như thế nào. Chỉ cần “bắt” được keywords giống với keywords trong câu hỏi, thí sinh sẽ lập tức tìm thông tin liên quan để chọn đáp án. Tuy nhiên điều này rất dễ khiến thí sinh mất nhiều thời gian đọc “lạc lối” trong những thông tin không phục vụ cho việc trả lời câu hỏi.

Adapted-from-Reading -passage-3-Test 1Ví dụ: (Adapted from Reading passage 3 – Test 1 – The official guide to IELTS)

Adapted-from-Reading

Trong ví dụ này, câu 28 yêu cầu thí sinh tìm  “public view about artists” của “the French and the English”- quan điểm của công chúng người Pháp và người Anh về nghệ sĩ. Ta có thể bắt gặp keyword “French” ở đoạn 2 và cả ở dòng 65 của đoạn 4, nếu không để ý, thí sinh có thể lãng phí thời gian đọc các thông tin trong đoạn 4 để tìm câu trả lời cho câu 28, tuy nhiên nếu để ý trật tự thông tin từ các câu hỏi, câu 29 yêu cầu đọc hiểu thông tin ở “line 59” tức là ở đoạn 4. Điều này có nghĩa là các thông tin phục vụ cho việc trả lời câu hỏi 28 phải nằm trước dòng 59. 

Để khắc phục lỗi này, thí sinh cần chú ý trình tự thông tin đang scan từ các câu hỏi để tránh lãng phí thời gian đọc các thông tin không phục vụ cho việc trả lời câu hỏi. Ngoài ra, các câu hỏi trắc nghiệm trong bài thi IELTS thường được sắp xếp theo trình tự nội dung trong đoạn văn và thí sinh có thể vận dụng điều này nhằm tìm thông tin một cách dễ dàng hơn.

Tập trung quá nhiều thời gian vào một câu hỏi

Những câu hỏi dài với các cấu trúc phức tạp và từ vựng khó rất phổ biến trong các bài thi thuộc Multiple Choice trong IELTS Reading. Việc dành nhiều thời gian vào câu hỏi khó sẽ khiến thí sinh “mắc kẹt” và không đủ thời gian hoàn thành các câu hỏi còn lại của bài thi Reading.

Để khắc phục lỗi này, thí sinh nên lướt qua câu hỏi này để đến với các câu hỏi tiếp theo, sau đó còn thời gian sẽ quay lại. Áp dụng cách này, sau khi trả lời những câu hỏi khác, thí sinh đã nắm được trình tự thông tin trong bài theo trình tự câu hỏi, điều này giúp thí sinh dễ giới hạn khu vực tìm kiếm thông tin liên quan đến câu hỏi khó. 

Dạng bài True/ False/ Not given

Giới thiệu dạng bài True/ False/ Not given 

Một trong các dạng bài Reading IELTS thường gặp nhất đó là True, False và Not Given. Đây là dạng bài đòi hỏi thí sinh phải đưa ra lựa chọn Đúng, Sai hoặc thông tin KHÔNG CÓ trong bài đọc dựa trên nội dung bài đọc và những thông tin đề bài cung cấp. Đặc điểm nhận biết dạng bài này đó là thí sinh sẽ nhận được 1 danh sách các câu hỏi, yêu cầu lựa chọn thông tin đó là Đúng - Sai - Không được đưa ra

image-altIELTS Reading True/False/Not Given

Thí sinh cần phân biệt rõ các loại nhận định: 

  1. False: Sai – nội dung câu được đề cập ngược lại với thông tin trong bài thi

  2. True: Đúng – nội dung câu được đề cập giống với với thông tin trong bài thi

  3. Not given: Không được đề cập – nội dung câu được đề cập không được xác nhận hoặc mẫu thuẫn với thông tin trong đoạn văn.

Kỹ năng yêu cầu:

  • Có khả năng scanning và đọc hiểu thông tin

  • Xác định chi tiết cụ thể được đề cập tới trong văn bản

  • Có thể nắm được những ý kiến mà văn bản đưa ra

Hướng dẫn làm dạng bài True/ False/ Not given 

Khi gặp các câu hỏi dạng bài True/ False/ Not given, thí sinh có thể tiếp cận theo các bước sau đây:

Bước 1: Xác định keyword

Keyword là những (cụm) từ mang thông tin chính trong câu và nếu thiếu những (cụm) từ đó thì câu sẽ trở nên vô nghĩa. Ví dụ: ‘’Marry is intelligent’’ thì từ keyword ở đây sẽ là “Marry’’ và “intelligent’’ vì nếu thiếu hai từ này, thí sinh sẽ không thể hiểu được nghĩa của câu. Những (cụm) từ keyword thường là content words (bao gồm danh từ, động từ, tính từ, trạng từ), danh từ riêng và các con số.

Xác định keyword cho câu statement là một bước quan trọng để thí sinh có thể tiếp tục với các bước làm dạng bài True, False, Not given nhanh và hiệu quả. Sau khi đọc và nắm được nghĩa của câu statement, thí sinh cần xác định keyword ngay để highlight phần thông tin. 

Ví dụ với câu statement sau: ‘Bingham went to South America in search of an Inca city.’’ (Lược dịch: Bingham đã đến Nam Mỹ để tìm kiếm thành phố Inca.). Thì keyword cần xác định sẽ gồm: ‘’Bingham went to South America in search of an Inca city.”

(Ví dụ trên được trích từ Reading test 2, passage 2 của sách IELTS Cambridge 12)

Bước 2: Scan nội dung bài

Scanning là kỹ năng đọc lướt nhanh chóng, để tìm chi tiết cụ thể, mà không cần hiểu nội dung bài đọc và đây cũng là một kỹ năng làm bài rất phổ biến trong IELTS Reading. Ở bước này, thí sinh sẽ dùng kỹ năng scanning để quét nội dung bài đọc với mục đích là định vị đoạn thông tin cần tìm. Thí sinh sẽ scan nội dung bài đọc theo trình tự để tìm đoạn thông tin có chứa các keyword đã được xác định ở bước trên. 

Với câu statement và các keyword đã được xác định ở ví dụ trên, thí sinh sẽ bắt đầu scan vào nội dung bài và đưa đến đoạn thông tin sau. 

Vì ở đoạn A thí sinh có thể tìm được các keyword đã được xác định ở trên gồm “Bingham’’ (dòng 1), ‘’South America’’ (dòng 1), ‘’Inca’’ (dòng 4). 

Bước 3: Suy luận và trả lời câu hỏi

Sau khi đã định vị được đoạn chứa thông tin cần tìm, thí sinh sẽ đọc kĩ nội dung của đoạn để tìm ra câu trả lời. Ở bước cuối cùng này, thí sinh cần phải cận thận trong lúc đọc và suy luận vì đây là bước lấy điểm.

Tiếp tục với ví dụ trên, sau khi có đoạn chứa thông tin cần tìm thí sinh sẽ đọc kỹ nội dung và tìm được chi tiết để trả lời cho câu statement, đó chính là ‘’Hiram Bingham arrived in South America in 1911 ... His goal was to locate the remains of a city called Vitcos, the last capital of the Inca civilization.’’ Từ ‘’locate’’ ở chi tiết trên theo từ điển Cambridge thì có nghĩa là ‘’to find or discover the exact position of something’’ (Lược dịch: tìm hoặc khám phá vị trí chính xác của một thứ gì đó), và đồng nghĩa với từ ‘’search’’ ở statement. Sau khi đã biết được nghĩa của tất cả các từ trong chi tiết trên, thí sinh sẽ suy luận để có được câu trả lời. 

‘’Hiram Bingham đến Nam Mỹ vào năm 1911 ... Mục tiêu của ông là xác định vị trí còn sót lại của một thành phố tên là Vitcos, thủ đô cuối cùng của nền văn minh Inca.’’ Các thông tin ở nội dung bài đọc đều trùng khớp với statement, vì vậy câu trả lời sẽ là True. 

Một vài thí sinh cảm thấy dạng bài True, False, Not given tương đối phức tạp nên còn gặp khá nhiều vấn đề trong quá trình làm bài. Dưới đây là một số vấn đề phổ biến thường xảy ra khi gặp dạng câu hỏi này trong bài thi IELTS Reading của thí sinh.

Một số lưu ý khi làm dạng bài True/ False/ Not given

Khi làm dạng bài True/ False/ Not given trong IELTS Reading, người đọc cần lưu ý một số lỗi sai thường gặp sau:

Chưa hiểu rõ Not given là gì

Một lỗi tương đối phổ biến khi làm dạng bài True, False, Not given của thí sinh, đó chính là chưa phân biệt rõ ràng đâu là câu không được đề cập (Not Given). Thí sinh dễ bị mắc lỗi sai vì đôi lúc thông tin trong câu statement chỉ chứa một phần thông tin có trong nội dung bài (có thể là đúng hoặc sai) nhưng phần thông tin còn lại không hề liên quan đến nội dung bài đọc. Vì vậy, nếu thí sinh chỉ chú ý phần thông tin có trong bài của câu statement thì việc thí sinh nhầm lẫn giữa việc chọn True False thay vì là Not given sẽ xảy ra.

Ví dụ: Ở câu statement: ‘’Playing with dolls was found to benefit girls’ writing more than boys’ writing.’’ (Lược dịch: Việc chơi với búp bê được xem là có ích cho kĩ năng viết của bé gái hơn bé trai.) 

Trong khi đó, nội dung bài đọc đề cập rằng: ‘’Children wrote longer and better-structured stories when they first played with dolls representing characters in the story.’’ (Lược dịch: Trẻ em viết những câu chuyện dài hơn và có cấu trúc hơn khi lần đầu tiên chúng chơi với búp bê là những nhân vật trong câu chuyện.) 

Ở câu statement có nhắc đến thông tin về việc chơi búp bê và kĩ năng viết, nhưng cũng có thông tin không liên quan đến nội dung bài đọc khi đưa ra sự so sánh giữa kĩ năng viết của bé gái và bé trai. Vì vậy, nếu thí sinh không chú ý kĩ thì sẽ không thể đưa ra đáp án đúng cho câu statement này là không được đề cập đến (Not given). 

(Ví dụ trên được trích ở Reading Test 1, passage 1 của sách IELTS Cambridge 14)

Chưa nhận diện được từ đồng nghĩa

Câu statement của dạng câu hỏi True, False, Not given không phải lúc nào cũng sẽ sử dụng những từ có sẵn trong nội dung bài đọc, thay vào đó là sử dụng những từ đồng nghĩa. Với một vài thí sinh với vốn từ vựng yếu thì đây sẽ là một trở ngại trong quá trình làm bài.

Ví dụ: Đề đưa câu statement như sau: ‘’The tax on malt indirectly caused a rise in the death rate.’’ (Lược dịch:Thuế lúa mạch đã gián tiếp làm tăng tỉ lệ tử vong)

Trong khi đó, nội dung bài đọc đề cập rằng:‘’But in the late 17th century a tax was introduced on malt, the basic ingredient of beer. The poor turned to water and gin and in the 1720s the mortality rate began to rise again.’’ (Lược dịch: Nhưng vào cuối thế kỷ 17, một loại thuế đã được áp dụng đối với lúa mạch- thành phần cơ bản của bia. Người nghèo đã chuyển sang dùng nước và rượu gin và vào những năm 1720 khiến tỷ lệ tử vong bắt đầu tăng trở lại)

Có thể thấy, cụm từ ‘’mortality rate’’ trong bài đọc đã được thay bằng cụm từ đồng nghĩa ‘’death rate’’ để chỉ tỷ lệ tử vong. 

( Ví dụ được trích từ Reading Test 1, passage 1 của sách IELTS Cambridge 10.)

Dùng quan điểm cá nhân để trả lời câu hỏi

Nội dung của các bài đọc trong bài thi IELTS Reading trải dài trên nhiều lĩnh vực nên trong một vài trường hợp, thí sinh vẫn có thể gặp được bài đọc có chủ đề bản thân đã có kiến thức hoặc sự hiểu biết nhất định để trả lời các câu hỏi True, False, Not given.

Nhưng thí sinh cần lưu ý rằng quan điểm cá nhân của thí sinh không chắc chắn sẽ tương đồng với nội dung của bài đọc. Có một vài trường hợp thí sinh đã chọn ngay đáp án khi đọc câu statement mà chưa so sánh lại với nội dung bài đọc và dẫn đến lỗi sai không đáng có. 

Ví dụ: Với câu statement: ‘’Many visitors feel it is unlikely that they will return to New Zealand after their visit.’’ (Lược dịch: Nhiều du khách cảm thấy khó có khả năng quay lại New Zealand sau chuyến thăm của họ.) 

Nếu thí sinh dùng quan điểm cá nhân vì đã từng đọc được thông tin trái ngược với câu statement mà không so sánh lại với nội dung bài đọc, thì thí sinh có thể sẽ chọn câu trả lời là sai (False). 

Trong khi đó, nội dung bài đọc lại đề cập: ‘’Because of the long-haul flight, most visitors stay for longer (average 20 days) and want to see as much of the country as possible on what is often seen as a once-in-a-lifetime visit.’’ (Lược dịch: Do chuyến bay đường dài, hầu hết du khách ở lại lâu hơn (trung bình 20 ngày) và muốn xem càng nhiều đất nước càng tốt, nơi thường được xem là nơi đến thăm một lần trong đời.) 

Vì bài đọc đã nhắc đến đây là ‘’chuyến thăm một lần trong đời’’ nên du khách sẽ có thể không quay lại, nên đáp án cho câu statement này phải là đúng (True). 

(Ví dụ được trích từ Reading Test 1, Passage 1 từ sách IELTS Cambridge 13)

Dạng bài Yes/ No/ Not given

Giới thiệu dạng bài Yes/ No/ Not given

Dạng câu hỏi Yes/No/Not Given cũng tương tự như True/False/Not Given. Thí sinh sẽ phải lựa chọn Đồng ý/Không/Không có. Dạng câu hỏi này cần phải suy luận theo ý kiến, quan điểm của tác giả.

Điểm khác biệt ở đây là đối với dạng Yes/No/Not Given, thí sinh cần phải xác định những câu hỏi được đưa ra có đồng ý với quan điểm hoặc tuyên bố của người viết hay không. 

image-altIELTS Reading Yes/No/Not Given

Các bước làm dạng bài Yes/ No/ Not given

Khi gặp các câu hỏi dạng bài Yes/ No/ Not given thí sinh có thể tiếp cận theo các bước sau đây:

Bước 1: Đọc hiểu ý chính của các câu mà đề bài đưa ra

Để hiểu nhanh và chính xác các câu mà đề bài đưa ra, thí sinh cần lưu tâm đến hai loại từ vựng trong câu: 1) các keywords và 2) các controlling words.

  • Keywords là từ khoá giúp thí sinh xác định câu đang đề cập đến chủ đề nào, đối tượng nào và khía cạnh nào. Các từ khoá này giúp thí sinh truy tìm và khoanh vùng nhanh các câu nào trong bài đọc sẽ cung cấp câu trả lời. 

  • Controlling words là những từ vựng trọng tâm thể hiện ý chính của câu mà nếu thay đổi chúng thì ý của câu sẽ hoàn toàn bị thay đổi, và chúng chính là điểm cốt lõi để thí sinh xác định là ý của câu này có khớp hay trái ngược hay không đề cập với ý của tác giả trong bài viết.

Ví dụ:

Trích các câu hỏi 37 đến 39 của bài đọc ‘Having a laugh’, quyển IELTS Cambridge 15, NXB ĐH Cambridge, Test 2, Reading passage 3, năm 2020, trang 48.

(Các keywords được gạch dưới còn các controlling words được in nghiêng)

Câu 37: Participants in the Santa Cruz study were more accurate at identifying the laughs of friends than those of strangers

Những người tham gia trong nghiên cứu tại Santa Cruz thì chính xác hơn trong việc xác định tiếng cười giữa những người bạn hơn là tiếng cười giữa những người lạ.

Dựa vào các keywords để tìm và đọc kỹ những đoạn thông tin trong bài đọc đề cập đến Santa Cruz study, các người tham gia nghiên cứu, và đọc về việc những người này xác định tiếng cười giữa những người bạn và những người lạ. Controlling words thể hiện ý rằng người tham gia đoán đúng hơn khi đoán về tiếng cười giữa những người bạn so với khi đoán về tiếng cười giữa những người lạ. 

Câu 38: The researchers in the San Diego study were correct in their predictions regarding the behavior of the high-status individuals

Các nhà nghiên cứu trong thí nghiệm San Siego đã chính xác trong những dự đoán của họ về hành vi của những cá nhân có địa vị cao.

Dựa vào các keywords để tìm và đọc kỹ những đoạn thông tin trong bài đọc đề cập đến San Diego study, các nhà nghiên cứu, và đọc về việc sự dự đoán về hành vi của những cá nhân có địa vị cao. Controlling words thể hiện ý rằng các dự đoán của các nhà nghiên cứu là chính xác. 

Câu 39: The participants in the Australian National University study were given a fixed amount of time to complete the task focusing on employee profiles.

Những người tham gia trong nghiên cứu của trường đại học quốc gia Úc đã được cho một khoảng thời gian cố định để hoàn tất một nhiệm vụ tập trung vào các hồ sơ nhân viên.

Dựa vào các keywords để tìm và đọc kỹ những đoạn thông tin trong bài đọc đề cập đến Australian National University study, các người tham gia nghiên cứu, và đọc về một nhiệm vụ liên quan đến các hồ sơ nhân viên. Controlling words thể hiện ý là các người tham dự phải thực hiện nhiệm vụ này trong một khoảng thời gian cố định, tức là họ bị ràng buộc về thời gian. 

dang-bai-yes-no-not-given


Bước 2: Đọc hiểu ý chính của các quan điểm đề cập trong bài đọc 

Khi đã khoanh vùng được đoạn thông tin trong bài đọc liên quan đến chủ đề và nội dung của câu trong đề bài, thí sinh cần đọc kỹ quan điểm mà tác giả nêu ra. Yếu tố cần thiết để trả lời chính xác các câu hỏi dạng Yes/ No/ Not Given là đọc hiểu chính xác các quan điểm nêu ra trong bài đọc. Các quan điểm này thường không được nêu ra trực tiếp trong bài đọc mà thí sinh cần có khả năng nắm bắt ý chính mà tác giả muốn truyền tải hay ám chỉ. Thí sinh cần hiểu chính xác ý tưởng trình bày trong bài đọc mà không suy diễn theo ý kiến quan kinh nghiệm cá nhân của thí sinh. 

Ví dụ:

Trích đoạn từ bài đọc ‘Having a laugh’, quyển IELTS Cambridge 15, NXB ĐH Cambridge, Test 2, Reading passage 3, năm 2020, trang 44-45.

In one study conducted in 2016, samples of laughter from pairs of English-speaking students were recorded at the University of California, Santa Cruz. A team made up of more than 30 psychological scientists, anthropologists, and biologists then played these recordings to listeners from 24 diverse societies, from indigenous tribes in New Guinea to city dwellers in India and Europe. Participants were asked whether they thought the people laughing or friends or strangers. On average, the results were remarkably consistent: worldwide, people’s guesses were correct approximately 60% of the time

Thông tin của đoạn này cho thấy trong nghiên cứu tại University of California, Santa Cruz, các người tham gia nghiên cứu được nghe các đoạn ghi âm tiếng cười và được hỏi là liệu họ nghĩ rằng những người trong đoạn ghi âm đó là bạn hay là người lạ với nhau. Kết quả là những sự phỏng đoán của những người này chính xác khoảng 60%. 

Researchers have found that different types of laughter serve as codes to complex human social hierarchies. A team led by Christopher Oveis from the University of California, San Diego, found that high-status individuals had different laughs from low-status individuals, and that strangers’ judgements of an individual’s social status were influenced by the dominant or submissive quality of their laughter. In their study, 48 male college students….. Analysis revealed that, as expect, high-status individuals produced more dominant laughs and fewer submissive laughs relative to the low-status individuals. Meanwhile, low-status individuals were more likely to change the laughter based on the position of power; that is, the newcomers produced more dominant laughs when they were in the ‘powerful’ role of teasers. Dominant laughter was higher in pitch, louder, and more variable in tone than submissive laughter. 

Thông tin của đoạn này cho thấy trong nghiên cứu tại University of California, San Diego, các nhà nghiên cứu đã tìm ra là những người có địa vị cao có tiếng cười khác so với những người có địa vị thấp và sự đánh giá của người lạ về địa vị xã hội của một người thì bị ảnh hưởng bởi tính chất thống trị hay phụ thuộc của tiếng cười. Đúng như mong đợi, các cá nhân có địa vị cao tạo ra nhiều tiếng cười thống trị và ít tiếng cười phụ thuộc so với những người có địa vị thấp. Trong khi những cá nhân có địa vị thấp thì có xu hướng thay đổi tiếng cười dựa trên vị thế quyền lực của họ; đó là, những người mới đến tạo ra các tiếng cười thống trị nhiều hơn khi họ vào vai trò những người kể chuyện cười. Những tiếng cười thống trị thường có âm độ cao hơn, to hơn và tông giọng đa dạng hơn so với các tiếng cười phụ thuộc.

Another study, conducted by David Cheng and Lu Wang of Australian National University, was based on the hypothesis that humour might provide a respite from tedious situations in the workplace. This ‘mental break’ might facilitate the replenishment of mental resources. To test this theory,….The students then completed a task requiring persistence in which they were asked to guess the potential performance of employees based on provided profiles and were told that making 10 correct assessments in a row would lead to a win. However, the software was programmed such that it was nearly impossible to achieve 10 consecutive correct answers. Participants were allowed to quit the task at any point. Students who had watched the Mr. Bean video ended up spending significantly more time working on the task, making twice as many predictions as the other two groups. 

Thông tin của đoạn này cho thấy trong nghiên cứu tại Australian National University, các sinh viên được yêu cầu hoàn thành một nhiệm vụ đòi hỏi sự kiên trì khi họ phải đoán tiềm năng làm việc của các nhân viên trong các hồ sơ được giao và phải đưa ra chuỗi 10 đánh giá chính xác liên tục mới chiến thắng. Các người tham dự được cho phép bỏ cuộc bất kỳ lúc nào. Sinh viên mà xem video Mr. Bean thì kết cục là dành nhiều thời gian đáng kể hơn cho nhiệm vụ này, với số dự đoán gấp đôi hai nhóm còn lại. 

Bước 3: Đối chiếu thông tin giữa câu bên đề bài và ý bên bài đọc và đưa ra đáp án

Để đối chiếu thông tin, thí sinh cần dựa vào các từ đồng nghĩa và các ý tương đồng trong các câu bên đề bài và câu bên bài đọc và xác định đáp án là Yes hay No hay Not Given dựa trên quy tắc:

dang-bai-yes-no-not-given

Ví dụ: 

Câu ở đề bài: Participants in the Santa Cruz study were more accurate at identifying the laughs of friends than those of strangers.

Ý ở bài đọc: In one study conducted in 2016, samples of laughter from pairs of English-speaking students were recorded at the University of California, Santa Cruz. A team made up of more than 30 psychological scientists, anthropologists, and biologists then played these recordings to listeners from 24 diverse societies, from indigenous tribes in New Guinea to city dwellers in India and Europe. Participants were asked whether they thought the people laughing are friends or strangers. On average, the results were remarkably consistent: worldwide, people’s guesses were correct approximately 60% of the time. 

Các cụm từ đồng nghĩa:

  • Identifying the laughs of friends and those of strangers = were asked whether they thought the people laughing are friends or strangers.

Câu trả lời: Not Given

  • Bên bài đọc: viết rằng sự dự đoán của người tham gia là đúng 60% chứ không so sánh hai bên tiếng cười giữa bạn bè và tiếng cười giữa người lạ.

  • Bên đề bài: viết rằng người tham gia đoán đúng hơn khi đoán về tiếng cười giữa những người bạn so với khi đoán về tiếng cười giữa những người lạ. 

Dựa trên bài đọc thì không thể xác định được controlling words ‘more accurate’ này. Do đó, đáp án là Not Given.

Câu ở đề bài: The researchers in the San Diego study were correct in their predictions regarding the behavior of the high-status individuals.

Ý ở bài đọc: Researchers have on so found that different types of laughter serve as codes to complex human social hierarchies. A team led by Christopher Oveis from the University of California, San Diego, found that high-status individuals had different laughs from low-status individuals, ….. Analysis revealed that, as expect, high-status individuals produced more dominant laughs and fewer submissive laughs relative to the low-status individuals.

Các cụm từ đồng nghĩa:

  • were correct in their predictions = as expect

  • the behavior of the high-status individuals = high-status individuals produced more dominant laughs and fewer submissive laughs relative to the low-status individuals

Câu trả lời: Yes

  • Bên bài đọc: viết rằng sự dự đoán của các nhà nghiên cứu là chính xác

  • Bên đề bài: viết rằng đúng như dự đoán

Dựa trên bài đọc thì xác định được sự trùng khớp của controlling words ‘were correct’ này. Do đó, đáp án là Yes.

Câu ở đề bài: The participants in the Australian National University studywere given afixedamount of time to complete the task focusing on employee profiles.

Ý ở bài đọc: Another study, conducted by David Cheng and Lu Wang of Australian National University, was based on the hypothesis that humour might provide a respite from tedious situations in the workplace. This ‘mental break’ might facilitate the replenishment of mental resources. To test this theory,….The students then completed a task requiring persistence in which they were asked to guess the potential performance of employees based on provided profiles and were told that making 10 correct assessments in a row would lead to a win. However, the software was programmed such that it was nearly impossible to achieve 10 consecutive correct answers. Participants were allowed to quit the task at any point. Students who had watched the Mr. Bean video ended up spending significantly more time working on the task, making twice as many predictions as the other two groups. 

Các cụm từ đồng nghĩa 

  • The participants = the students 

  • The task focusing on employee profiles = to guess the potential performance of employees based on provided profiles

Câu trả lời: No

  • Bên bài đọc: viết rằng người tham dự có thể bỏ cuộc bất cứ lúc nào (quit the task at any point) và những sinh viên xem video Mr. Bean thì dành nhiều thời gian hơn để thực hiện nhiệm vụ này. Điều này chứng tỏ các người tham dự không bị ràng buộc về thời gian và tự do làm lâu đến khi nào họ muốn.

  • Bên đề bài: viết rằng các người tham dự phải thực hiện nhiệm vụ này trong một khoảng thời gian cố định, tức là họ bị ràng buộc về thời gian.

Dựa trên bài đọc thì xác định được sự trái ngược về ý của controlling words ‘given a fixed amount of time’ và có thể điều chỉnh lại cho khớp so với bài đọc (The participants in the Australian National University study were not given a fixed amount of time to complete the task focusing on employee profiles). Do đó, đáp án là No.

Một số lưu ý khi làm dạng bài Yes/ No/ Not given

Nhưng lưu ý khi làm dạng bài Yes/ No/ Not given tương tự những lưu ý khi làm dạng bài True/ False/ Not given vì nhưng đặc điểm tương đồng giữa hai dạng. Tuy nhiên, người học cần lưu ý đọc kỹ đề bài để đưa ra đáp án đúng theo yêu cầu. Nếu đề bài yêu cầu thí sinh điền Yes/ No/ Not given, câu trả lời True/ False sẽ không được tính điểm và ngược lại.

Dạng bài Matching information

Giới thiệu dạng bài Matching information

Thí sinh được yêu cầu tìm thông tin cụ thể trong các đoạn văn hoặc phần có chữ cái của văn bản. Dạng bài này có những yêu cầu tìm các thông tin khác nhau như: chi tiết cụ thể, ví dụ, lý do, mô tả, so sánh, tóm tắt, giải thích. Không nhất thiết phải tìm thông tin mọi đoạn văn hoặc phần của văn bản nhưng có thể có nhiều hơn một phần thông tin mà thì sinh cần tìm trong một đoạn. Điều này sẽ được yêu cầu cụ thể trong đề bài rằng có thể sử dụng bất kì chữ cái nào nhiều hơn một lần. Thông thường sẽ có 5 dạng thông tin là:

  • a fact

  • a reason

  • a definition

  • a summary

  • an example

image-altIELTS Reading Matching Information

Kỹ năng yêu cầu:

  • Hiểu rõ nội dung bài đề cập tới

  • Scan tìm kiếm thông tin

  • Biết cách xác định một chi tiết cụ thể trong văn bản

Các bước làm dạng bài Matching information

Khi gặp các câu hỏi dạng bài Matching information, thí sinh có thể tiếp cận theo các bước sau đây:

Sau đây là nội dung hướng dẫn khái quát các bước trả lời câu hỏi dạng Matching Information trong bài thi IELTS Reading.

Bước 1: Đọc tiêu đề để xác định nội dung chính của bài đọc. Nếu bài đọc không có tiêu đề, người học đọc 2-3 câu đầu tiên để xác định nội dung chính.

Bước 2: Đọc toàn bộ câu hỏi và gạch chân các từ khóa mang ý nghĩa chính của câu. Sau đó dự đoán một số cách paraphrase (diễn đạt khác) của từ khóa. 

Lưu ý: Trong quá trình gạch chân từ khóa, người học xác định ba loại từ khóa như sau:

  1. Từ khóa khó thay thế: bao gồm tên riêng và các con số nổi bật. Những từ khóa này hầu như sẽ không bao giờ được thay thế trong bài đọc, vì vậy người học ưu tiên xác định các từ khóa này để tìm vị trí thông tin.

  2. Từ khóa dễ thay thế: bao gồm các danh từ. Loại từ khóa này có thể được thay thế bởi một cách diễn đạt khác trong bài đọc, người học sử dụng từ khóa này để định vị thông tin khi bài đọc không có từ khóa khó thay thế.

  3. Từ khóa chìm: bao gồm các động từ và tính từ. Loại từ khóa này hầu như sẽ được thay thế bằng cách diễn đạt khác trong bài đọc. Người học sử dụng từ khóa này để định vị thông tin khi bài đọc không có từ khóa khó thay thế hoặc khi không xác định được cách diễn đạt khác của từ khóa dễ thay thế.

Ngoài ra người học có thể bỏ các các từ khóa liên quan đến chủ đề bài đọc (topic-related words) vì các từ này thường xuất hiện nhiều trong bài đọc và không hỗ trợ nhiều trong việc tìm kiếm thông tin.

Sau khi đã xác định từ khóa, người học dự đoán một số cách paraphrase của từ khóa dễ thay thế và từ khóa chìm.

Bước 3: Đọc bài đọc và thực hiện bước đối chiếu thông tin. Người học chú ý bước này được thực hiện theo từng đoạn văn. Sau khi đọc từng đoạn văn, người học nhanh chóng quay trở lại đọc các thông tin trong câu hỏi và đối chiếu nội dung chính của câu hỏi và nội dung đoạn thông tin tìm được.

Lưu ý: Đối với dạng bài Matching Information, khi thực hiện bước đối chiếu thông tin nếu như chỉ dựa trên các từ khóa để xác định đáp án là chưa đủ điều kiện. Có thể thấy các từ khóa có thể xuất hiện nhiều lần, tại các vị trí khác nhau trong bài đọc nhưng không thể hiện đúng chủ đề thông tin. Vì vậy, người học cần hiểu được chủ đề của câu hỏi và xác định mối liên kết giữa câu hỏi và thông tin bài đọc.

Ví dụ với câu hỏi đề bài:

  1. A reading system for the blind used when Louis Braille was a child.

Nếu chỉ dựa vào các từ khóa như a reading system, the blind, Louis Braille, child để tìm vị trí, người học sẽ tìm thấy thông tin sẽ xuất hiện trong hai đoạn sau:

Đoạn A: Only a dozen years later, at the age of fifteen, Braille developed a system of raised dots on paper that made it possible for blind people to read and write.

Nhận xét: Có thể thấy cả ba từ khóa đều xuất hiện đầy đủ trong đoạn văn A, tuy nhiên thông tin trong đoạn văn trên vẫn chưa trùng khớp với chủ đề của câu hỏi. Chủ đề của câu hỏi là một hệ thống đọc cho người mù được sử dụng khi Braille còn nhỏ, trong khi đó, thông tin trong đoạn A đưa ra là hệ thống đọc do Braille cải tiến khi ông còn nhỏ.

Người đọc cần nhận ra điểm khác biệt như sau: reading system được used (trong câu hỏi) và reading system được developed bởi Braille (trong đoạn A) => thông tin không trùng khớp.

Đoạn B: He was a gifted student and at the age of ten earned a scholarship to attend the Royal Institution for Blind Youth in Paris. The Institution relied largely on oral instruction, but pupils had access to a few books specially designed for blind students by Valentin Hauy, the school’s founder. Hauy had developed a method for pressing shapes of letters onto wet paper and then letting them dry, providing pages with raised characters that students could “read” by running their fingertips across the thick paper.

Nhận xét: các từ khóa trong đoạn B không lặp lại chính xác như các từ khóa trong câu hỏi mà đã được diễn đạt theo cách khác.

  1. Braille ~ He

  2. child ~ at the age of ten

  3. reading system ~ a method … students could “read”…

Thông tin trong đoạn B cho thấy rằng ông Hauy (người thành lập trường học dành cho thanh thiếu niên mù) đã cải thiện một phương pháp đọc và phương pháp này được chính các học sinh tại ngôi trường mà Braille theo học sử dụng. Học sinh đọc bằng cách dùng đầu ngón tay di chuyển theo các chữ nổi trên giấy. => Thông tin trùng khớp với chủ đề câu hỏi.

Minh họa các bước trả lời câu hỏi bài Braille system (Barron’s IELTS Practice Exams, Columbia University, 234-235).

Bước 1: Đọc tiêu đề để xác định nội dung chính của bài đọc.

Tiêu đề bài “Braille system” => chủ đề bài đọc nói về hệ thống Braille.

Bước 2: Đọc toàn bộ câu hỏi và gạch chân các từ khóa mang ý nghĩa chính của câu.

  1. when the Braille system was officially accepted in France

  2. a reading system for the blind used when Louis Braille was a child

  3. how Braille is read

  4. the reason why Louis Braille was blind

  5. a description of the methodon which Louis Braille based his system

Người học lựa chọn từ khóa dựa theo cách phân chia từ khóa ở nội dung phần 3. Các từ khóa như Louis Braille system có thể lược bỏ vì đây là các từ liên quan đến chủ đề bài đọc (topic-related words)

Bước 3: Đọc từng đoạn văn và thực hiện bước đối chiếu thông tin.

Ở bước này tác giả sẽ minh họa việc đọc hiểu và đối chiếu thông tin trong đoạn đầu tiên của bài đọc.

image-alt

Sau khi đọc xong đoạn A, người đọc nhanh chóng quay trở lại đọc thông tin trong các câu hỏi và thực hiện đối chiếu thông tin.

Có thể thấy thông tin ở câu hỏi số 4 (the reason why Louis Braille was blind) trùng khớp với thông tin nằm ở câu 3 và câu 4 của đoạn A. Chủ đề câu hỏi đưa ra là “Nguyên nhân tại sao Braille bị mù”. Trong đoạn văn trên có giải thích khi Braille Louis chọc mắt mình bằng một công cụ sắc bén trên bàn làm việc của cha mình, chấn thương đã nhiễm trùng sau đó lây lan qua cả hai mắt, khiến ông mất thị lực.

Người học có thể định vị thông tin nhờ vào động từ “caused” (gây ra). Thông thường trình tự thông tin sẽ được sắp xếp như sau: Nguyên nhân - cause - hệ quả => Vậy thông tin đứng trước “caused” sẽ là nguyên nhân giải thích cho cho việc Braille bị mù, thông tin này sẽ tương ứng với từ khóa “reason” trong câu hỏi. 

Thông tin paraphrase:

was blind ~ lose his vision

=>Vậy đáp án cho câu 8 là A.

Người học thực hiện đọc tiếp các đoạn văn tiếp theo và lặp lại Bước 3 cho đến khi trả lời hết các câu hỏi. Nếu một đoạn văn không chứa bất kỳ thông tin của câu hỏi nào, bỏ qua đoạn văn đó và đọc các đoạn tiếp theo.

Một số lưu ý khi làm dạng bài Matching information

Khi làm dạng bài Matching information trong IELTS Reading, người đọc cần lưu ý một số điểm sau:

Đặc điểm 1: Thông tin đưa ra thường là một cụm danh từ. Cụm danh từ thường tổng hợp một thông tin đưa ra trong bài đọc.

Ví dụ: Occupations usually found in left-handed populations. (Những nghề nghiệp thường thấy ở những người thuận tay trái). Trong đó “occupations” là danh từ chính.

Đặc điểm 2: Số lượng câu hỏi thường sẽ nhiều hoặc ít hơn số lượng đoạn văn trong bài đọc.

Đặc điểm 3: Vị trí thông tin liên quan mà người học cần tìm để trả lời câu hỏi sẽ không theo trình tự câu hỏi và sẽ không tuân theo bất cứ quy luật về trình tự nào.

Đặc điểm 4: Một đoạn văn có thể chứa nhiều hơn một thông tin hoặc cũng có thể không chứa thông tin nào.

Ví dụ: Trong bài đọcThe Braille system(Barron's IELTS practice exams), người học có thể tìm thấy thông tin ở câu hỏi 29 và câu hỏi 33 trong cùng một đoạn văn là đoạn B.

Câu 29: Louis Braille's early education

Câu 33: a reading system for the blind used when Louis Braille was a child

Cả hai thông tin trên sẽ được tìm thấy trong đoạn B sau:

image-alt

Thông tin câu 29 được tìm thấy ở câu đầu tiên và câu thứ hai của đoạn

  1. Braille theo học tại một trường học địa phương có trẻ em bị khiếm thị

  2. Anh ấy là một học sinh có năng khiếu và khi mới 10 tuổi đã giành được học bổng để theo học tại Học viện Hoàng gia dành cho Thanh thiếu niên mù ở Paris.

=> hai câu trên nói về việc giáo dục lúc nhỏ của Braille (early education).

Thông tin câu 33 được tìm thấy ở câu thứ 5 của đoạn

  1. Câu văn mô tả một phương thức đọc do ông Hauy tạo ra cho trẻ em mù ở trường Braille theo học. Hình thành các chữ nổi trên mặt giấy và dùng đầu ngón tay để đọc.

=> Thông tin trùng khớp với nội dung câu hỏi “hệ thống đọc được sử dụng cho người mù khi Braille còn nhỏ.

Dạng bài Matching Headings

Giới thiệu dạng bài Matching Headings

Đề bài sẽ cung cấp một danh sách tiêu đề được đánh bằng chữ số La Mã (i,ii,ii,v.v). Thí sinh phải nối chính xác tiêu đề trong đề bài với các đoạn văn trong bài viết. Với dạng bài bài, có thể một số đoạn văn hoặc phần không được bao gồm trong yêu cầu của đề bài.

image-altIELTS Reading Matching Heading

Yêu cầu kỹ năng:

  • Đọc hiểu được mục đích, nội dung tổng quát của mỗi section/đoạn trong văn bản và heading

  • Xác định được luận điểm chính với lý lẽ có điểm nào khác nhau

Các bước làm dạng bài Matching Headings

Khi gặp các câu hỏi dạng bài Matching information, thí sinh có thể tiếp cận theo các bước sau đây:

Bước 1: Đọc các tiêu đề (headings) và xác định từ khóa:

Mục đích: để nắm được nội dung của tiêu đề, không phải để dò tìm các từ đó trong các đoạn.

Bước 2: Tìm câu chủ đề (topic sentences) hoặc đọc lướt các đoạn để nắm được nội dung chính

  1. Câu chủ đề thường bắt đầu bằng các từ But, Yet, The point is, Obviously, Overall, In reality, In general, The main point is, The truth is, Above all,

  2. Các vị trí của câu chủ đề theo thứ tự phổ biến:

  3. Đầu đoạn

  4. Cuối đoạn

  5. Câu thứ 2 của đoạn

  6. Giữa đoạn

Tuy nhiên một số đoạn vẫn có thể không có câu chủ đề, khi đó cần đọc lướt cả đoạn để nắm được nội dung chính

Bước 3: Dự đoán/xác định các từ đồng nghĩa hoặc mang nghĩa tương đương giữa các tiêu đề và câu chủ đề ở các đoạn

Bước 4: Chọn câu trả lời

Để hiểu rõ hơn, hãy cùng phân tích một ví dụ cụ thể sau đây:

Choose the correct heading for each paragraph from the list of headings below

Tea and the Industrial Revolution

A cambridge professor says that a change in drinking habits was the reason for the Industrial Revolution in Britain. Anjana Abuja reports

A. Alan Macfarlane, professor of anthropological science at King’s College, Cambridge, has, like other historians, spent decades wrestling with the enigma of the Industrial Revolution. Why did this particular Big Bang – the world changing birth of industry – happen in Britain? And why did it strike at the end of the 18th century?

B. Macfarlane compares the puzzle to a combination lock. ‘There are about 20 different factors and all of them need to be present before the revolution can happen,’ he says. For industry to take off, there needs to be the technology and power to drive factories, large urban populations to provide cheap labour, easy transport to move goods around, an affluent middle-class willing to buy mass-produces objects, a market-driven economy and a political system that allows this to happen. While this was the case for England, other nations, such as Japan, the Netherlands and France also met some of these criteria but were not industrializing. ‘All these factors must have been necessary but not sufficient to cause the revolution,’ says Macfarlane. ‘After all, Holland had everything except coal, while China also had many of these factors. Most historians are convinced there are one or two missing factors that you need to open the ’

C. The missing factors, he proposes, are to be found in almost every kitchen cupboard. Tea and beer, two of the nation’s favourite drinks, fueled the revolution. the antiseptic properties of tannin, the active ingredient in tea, and of hops in beer – plus the fact that both are made with boiled water – allowed urban communities to flourish at close quarters without succumbing to water-borne diseases such as dysentery. The theory sounds eccentric but once he starts to explain the detective work that went into his deduction, the skepticism gives way to wary admiration. Macfarlane’s case has been strengthened by support from notable quarters – Roy Porter, the distinguished medical historian, recently wrote a favourable appraisal of his

D. Macfarlane had wondered for a long time how the Industrial Revolution came about. Historians had alighted on one interesting factor around the mid-18th century that required explanation. Between about 1650 and 1740, the population in Britain was static. But then there was a burst in population growth. Macfarlane says: ‘The infant mortality rate halved in the space of 20 years, and this happened in both rural areas and cities, and across all classes. People suggested four possible causes. Was there a sudden change in the viruses and bacteria around? Unlikely. Was there a change in environmental conditions? There were improvements in agriculture that wiped out malaria, but these were small grains. Sanitation did not become widespread until the 19th The only option left is food. But the height and weight statistics show a decline. So the food must have got worse. Efforts to explain this sudden reduction in child deaths appeared to draw a blank.’

List of headings

  1. The search for the reason for an increase in population

  2. The time and place of The Industrial Revolution

  3. The cases of Holland, France and China

  4. Comparisons with Japan lead to the answer

  5. Two keys to Britain’s Industrial Revolution

  6. Industrialization and the fear of unemployment

  7. Conditions required for Industrial Revolution

Các bước làm bài chi tiết

1. Đọc các tiêu đề và tìm từ khóa

Ví dụ:

  1. Tiêu đề i: reason, increase in population

  2. Tiêu đề ii: time and place

  3. Tiêu đề iii: Holland, France, China

  4. Tiêu đề iv: Japan

  5. Tiêu đề v: two keys, Britain

  6. Tiêu đề vi: unemployment

  7. Tiêu đề vii: conditions required

Cụm “Industrial Revolution” không cần chú ý vì nó là nội dung chính được nhắc đi nhắc lại từ đầu đến cuối bài.

2. Tìm câu chủ đề hoặc đọc lướt các đoạn để nắm được nội dung chính Ví dụ:

  1. Ở đoạn B, ý chính có thể tìm được ở câu thứ 2, cũng là câu chủ đề của đoạn, There are about 20 different factors and all of them need to be present before the revolution can happen”. Các câu tiếp theo đóng vai trò khai triển cụ thể các yếu tố và các nước như England, Japan, Netherlands, Holland và China được đưa vào ở phần cuối đoạn như các dẫn chứng minh họa.

  2. Ở đoạn D, câu thứ 3 của đoạn đóng vai trò như câu nêu lên chủ đề chính cho cả đoạn (câu chủ đề vị trí giữa đoạn), đứng sau cụm “but then”, But then there was a burst in population growth”. Cho nên đoạn này sẽ tập trung miêu tả giải thích các nguyên nhân dẫn đến việc tăng dân số (khi kết hợp thêm với từ “explanation” ở câu 2). Các câu còn lại của cả đoạn đóng vai trò phân tích cụ thể các nguyên nhân.

3. Dự đoán/xác định các từ đồng nghĩa hoặc mang nghĩa tương đương giữa các tiêu đề và câu chủ đề ở các đoạn và chọn đáp án

Ví dụ:

  1. Ở đoạn A có 2 câu hỏi với “Why”. Câu hỏi thứ nhất đề cập đến “happen in Britain” chỉ yếu tố nơi chốn, tương ứng với “where” . Câu hỏi thứ hai đề cập “ at the end of the 18th century” chỉ yếu tố thời gian, tương ứng với” when”

Đoạn A sẽ tương ứng với heading ii

  1. Ở đoạn B, trong câu chủ đề (câu thứ 2) có cụm “ factors…need to be present…” tương ứng với “conditioned required” trong tiêu đề

Đoạn B sẽ tương ứng với heading vii

  1. Ở đoạn C, trong câu chủ đề ( câu thứ 2) có cụm “ tea and beer, two of the…” tương ứng với “two keys” trong tiêu đề

Đoạn C sẽ tương ứng với heading v

  1. Ở đoạn D, trong câu chủ đề có ‘population growth” kết hợp với từ “explanation” trong câu trước đó, tương ứng với “reason” và “population growth” trong tiêu đề

Đoạn D sẽ tương ứng với heading i

Một số lưu ý khi làm dạng bài Matching Headings

Ngoài các 4 bước làm bài cơ bản, để nhận diện tiêu đề phù hợp nhanh hơn và chính xác hơn thí sinh nên kết hợp thêm Matching Heading tips - Kỹ thuật dự đoán nội dung. Kỹ thuật này sẽ “ngược” với cách làm bài thông thường, thay vì dự đoán tiêu đề cho đoạn văn, thí sinh sẽ dự đoán nội dung đoạn văn theo tiêu đề.

Cụ thể, trước khi bắt đầu đọc bài khóa, thí sinh nên đọc danh sách các tiêu đề để dự đoán, brainstorm nhanh xem một đoạn văn có tiêu đề này sẽ chứa các loại thông tin gì. Bước này sẽ giúp thí sinh định hình sơ bộ được nội dung của bài khóa, từ đó nhận diện nhanh hơn tiêu đề phù hợp khi bắt đầu đi vào đọc từng đoạn văn.

Matching Heading tips - 3 bước để dự đoán nội dung từ tiêu đề như sau:

Bước 1: Đọc từng tiêu đề (headings) và gạch chân các từ khóa.

Bước 2: Dự đoán các thông tin liên quan đến từ khóa. Có thể ghi nhanh sang bên cạnh tiêu đề các dự đoán.

Bước 3: Đọc lần lượt từng đoạn văn, tìm ý chính/câu chủ đề và đối chiếu với danh sách các tiêu đề và dự đoán đã đưa ra trước đó

Phần tiếp theo của bài viết sẽ tập trung phân tích bước 2 thông qua các ví dụ cụ thể để giúp người đọc hiểu rõ hơn về cách tư duy dự đoán nội dung bài khóa từ tiêu đề.

Ví dụ 1: 

Personalities

(nguồn: Englobex)

List of Headings

i A degree of control

ii Where research has been carried out into the effects of family on personality

iii Categorising personality features according to their origin

iv A variety of reactions in similar situations

v A link between personality and aspects of our lives that aren’t chosen

vi A possible theory that cannot be true 

vii Measuring personality

viii Different types of personality

ix How our lives can reinforce our personalities

x Potentially harmful effects of personality tests

Bước 1: Tìm từ khóa và dự đoán các dạng thông tin liên quan tới từ khóa

i A degree of control

  • Từ khóa: control (kiểm soát)

Bước 2: Dự đoán các thông tin liên quan đến từ khóa

  • Dự đoán nội dung đoạn văn: Sự kiểm soát tính cách của bản thân hoặc thao túng tính cách của người khác

Làm tương tự với các tiêu đề còn lại:

ii Effects of family on personality

  • Từ khóa: effects, family (ảnh hưởng, gia đình)

  • Dự đoán nội dung đoạn văn: Đoạn văn có thể sẽ nói tới ảnh hưởng của gia đình và việc nuôi dưỡng quá trình hình thành tính cách, ví dụ con cái thường giống tính cách bố mẹ, anh chị em ruột có tính cách giống nhau.

iii Categorising personality features according to their origin

  • Từ khóa: categorising, origin (phân loại, nguồn gốc)

  • Dự đoán nội dung đoạn văn: Đoạn văn có thể sẽ liệt kê các nét tính cách khác nhau tương ứng với các nguồn gốc khác nhau (có thể liên quan đến mã gen hoặc cách được nuôi dạy từ nhỏ)

iv A variety of reactions in similar situations

  • Từ khóa: variety, reactions, similar situations (đa dạng, phản ứng, tình huống giống nhau)

  • Dự đoán nội dung đoạn văn: Đoạn văn có thể sẽ liệt kê 1 số phản ứng khác nhau trong 1 tình huống

v A link between personality and aspects of our lives that aren’t chosen

  • Từ khóa: link, not chosen (sự liên kết, không được chọn)

  • Dự đoán nội dung đoạn văn: Đoạn văn có thể sẽ nhắc đến các yếu tố trong cuộc sống mà 1 người không thể lựa chọn như quê quán, chủng tộc, màu da, tầng lớp xã hội..

vi A possible theory that cannot be true 

  • Từ khóa: theory, not true (thuyết, không đúng)

  • Dự đoán nội dung đoạn văn: Đoạn văn có thể sẽ nhắc đến 1 thuyết về tính cách đã bị phủ nhận

vii Measuring personality

  • Từ khóa: measuring (đo lường)

  • Dự đoán nội dung đoạn văn: 

viii  different types of personality

  • Từ khóa: types (các loại)

  • Dự đoán nội dung đoạn văn: Đoạn văn có thể sẽ liệt kê, mô tả các loại tính cách khác nhau như hướng nội, hướng ngoại, nhạy cảm…hoặc so sánh giữa cách những người có tính cách khác nhau phản ứng với 1 tình huống

ix how our life can reinforce our personalities

  • Từ khóa: reinforce (củng cố)

  • Dự đoán nội dung đoạn văn: Đoạn văn có thể sẽ cho thấy cách các lựa chọn được đưa ra khi người ta dần lớn lên khiến các tính cách rõ nét hơn, ví dụ như một người hướng ngoại hay đi giao lưu bạn bè sẽ trở nên càng hướng ngoại hơn.

x potentially harmful effects of personality tests

  • Từ khóa: harmful effects, tests

  • Dự đoán nội dung đoạn văn: Các bài test tính cách và cách ảnh hưởng tiêu cực đến người làm test như khiến họ hoài nghi về bản thân hay có các định kiến về người khác

Bước 3: Sau khi xem qua một lượt danh sách tiêu đề, thí sinh nên đọc từng đoạn văn trong bài khóa, tìm câu chủ đề và lần lượt đối chiếu với danh sách các tiêu đề và dự đoán đã đưa ra trước đó.

A We are all familiar with the idea that different people have different personalities, but what does this actually mean? It means that different people behave in different ways but it must be more than that. After all, different people find themselves in different circumstances, and much of their behaviour follows from this fact. However, our common experience reveals that different people respond in quite remarkably different ways even when faced with roughly the same circumstances. Alan might be happy to live alone in a quiet and orderly cottage, go out once a week, and stay in the same job for thirty years, whilst Beth likes nothing better an exotic travel and being surrounded by vivacious friends and loud music.

-> Tiêu đề tương ứng: iv

  • Câu chủ đề và từ khóa tương ứng tiêu đề iv: “... different people respond in quite remarkably different ways even when faced with roughly the same circumstances.

  • Đoạn thông tin trùng với dự đoán: “Alan might be happy to live alone in a quiet and orderly cottage, go out once a week, and stay in the same job for thirty years, whilst Beth likes nothing better an exotic travel and being surrounded by vivacious friends and loud music”

B In cases like these, we feel that it cannot be just the situation which is producing the differences in behaviour. Something about the way the person is ‘wired up’ seems to be at work, determining how they react to situations, and, more than that, the kind of situations they get themselves into in the first place. This is why personality seems to become stronger as we get older; when we are young, our situation reflects external factors such as the social and family environment we were born into. As we grow older, we are more and more affected by the consequences of our own choices (doing jobs that we were drawn to, surrounded by people like us whom we have sought out). Thus, personality differences that might have been very slight at birth become dramatic in later adulthood.

-> Tiêu đề tương ứng: ix

  • Câu chủ đề và từ khóa tương ứng tiêu đề: “...personality seems to become stronger as we get older…”, “...personality differences that might have been very slight at birth become dramatic in later adulthood.”

  • Đoạn thông tin trùng với dự đoán: như câu chủ đề nêu trên.

C Personality, then, seems to be the set of enduring and stable dispositions that characterise a person. These dispositions come partly from the expression of inherent features of the nervous system, and partly from learning. Researchers sometimes distinguish between temperament, which refers exclusively to characteristics that are inborn or directly caused by biological factors, and personality, which also includes social and cultural learning. Nervousness, for example, might be a factor of temperament, but religious piety is an aspect of personality.

-> Tiêu đề tương ứng: iii

  • Câu chủ đề và từ khóa tương ứng tiêu đề iii: “Researchers sometimes distinguish between temperament, which refers exclusively to characteristics that are inborn or directly caused by biological factors, and personality, which also includes social and cultural learning”

  • Đoạn thông tin trùng với dự đoán: “Nervousness, for example, might be a factor of temperament, but religious piety is an aspect of personality.”

D The discovery that temperamental differences are real is one of the major findings of contemporary psychology. It could easily have been the case that there were no intrinsic differences between people in temperament, so that given the same learning history, the same dilemmas, they would all respond in much the same way. Yet we now know that this is not the case.

-> Tiêu đề tương ứng: vi

  • Câu chủ đề và từ khóa tương ứng với từ khóa trong tiêu đề vi: “ ...one of the major findings...”, “Yet we now know that this is not the case.

  • Đoạn thông tin trùng với dự đoán: như câu chủ đề nêu trên.

E Personality measures turn out to be good predictors of your health, how happy you typically are – even your taste in paintings. Personality is a much better predictor of these things than social class or age. The origin of these differences is in part innate. That is to say, when people are adopted at birth and brought up by new families, their personalities are more similar to those of their blood relatives than to the ones they grew up with.

-> Tiêu đề tương ứng: ii

  • Câu chủ đề và từ khóa tương ứng với từ khóa trong tiêu đề ii: “The origin of these differences is in part innate.”

  • Đoạn thông tin trùng với dự đoán: “...their personalities are more similar to those of their blood relatives than to the ones they grew up with”

F Personality differences tend to manifest themselves through the quick, gut-feeling, intuitive and emotional systems of the human mind. The slower, rational, deliberate systems show less variation in output from person to person. Deliberate rational strategies can be used to override intuitive patterns of response, and this is how people wishing to change their personalities or feelings have to go about it. As human beings, we have the unique ability to look in at our personality from the outside and decide what we want to do with it.

-> Tiêu đề tương ứng: i

  • Câu chủ đề và từ khóa tương ứng với từ khóa trong tiêu đề i: “Deliberate rational strategies can be used to override intuitive patterns of response, and this is how people wishing to change their personalities or feelings have to go about it.” 

  • Đoạn thông tin trùng với dự đoán: như câu chủ đề nêu trên.

Ví dụ 2: Gợi ý: Đầu tiên, người đọc nên thử áp dụng các bước phân tích, dự đoán như trên để tự chọn đáp án trước, sau đó check hướng dẫn ở dưới.

List of headings

i    A description of the procedure

ii    A misleading name

iii   Broadening applications

iv    What is neuromarketing?

Inside the mind of the consumer

Could brain-scanning technology provide an accurate way to assess the appeal of new products and the effectiveness of advertising?

A

MARKETING people are no longer prepared to take your word for it that you favour one product over another. They want to scan your brain to see which one you really prefer. Using the tools of neuroscientists, such as electroencephalogram (EEG) mapping and functional magnetic-resonance imaging (fMRI), they are trying to learn more about the mental processes behind purchasing decisions. The resulting fusion of neuroscience and marketing is inevitably being called 'neuromarketing’.

B

The first person to apply brain-imaging technology in this way was Gerry Zaltman of Harvard University, in the late 1990s. The idea remained in obscurity until 2001, when BrightHouse, a marketing consultancy based in Atlanta, Georgia, set up a dedicated neuromarketing arm, BrightHouse Neurostrategies Group. (BrightHouse lists Coca-Cola, Delta Airlines and Home Depot among its clients.) But the company's name may itself simply be an example of clever marketing. BrightHouse does not scan people while showing them specific products or campaign ideas, but bases its work on the results of more general fMRI-based research into consumer preferences and decision-making carried out at Emory University in Atlanta.

C

Can brain scanning really be applied to marketing? The basic principle is not that different from focus groups and other traditional forms of market research. A volunteer lies in an fMRI machine and is shown images or video clips. In place of an interview or questionnaire, the subject's response is evaluated by monitoring brain activity. fMRIprovides real-time images of brain activity, in which different areas “light up” depending on the level of blood flow. This provides clues to the subject's subconscious thought patterns. Neuroscientists know, for example, that the sense of self is associated with an area of the brain known as the medial prefrontal cortex. A flow of blood to that area while the subject is looking at a particular logo suggests that he or she identifies with that brand.

D

At first, it seemed that only companies in Europe were prepared to admit that they used neuromarketing. Two carmakers, DaimlerChrysler in Germany and Ford's European arm, ran pilot studies in 2003. But more recently, American companies have become more open about their use of neuromarketing. Lieberman Research Worldwide, a marketing firm based in Los Angeles, is collaborating with the California Institute of Technology (Caltech) to enable movie studios to market-test film trailers. More controversially, the New York Times recently reported that a political consultancy, FKF Research, has been studying the effectiveness of campaign commercials using neuromarketing techniques.

Matching Heading tips - Hướng dẫn dự đoán và giải thích đáp án:

image-alt


Ngoài ra, khi làm dạng câu hỏi Matching Headings, người đọc cũng cần chú ý một số bẫy thường gặp:

Các tiêu đề có nét tương đồng, dễ gây nhầm lẫn

Khi làm bài dạng IELTS Reading Matching Headings, một số đáp án bẫy sẽ được viết khá giống với đáp án đúng để đánh lừa người đọc. Những đáp án này có thể giống đến 90% về câu chữ và ý tưởng. Vì vậy, việc xác định được những đáp án bẫy như vậy là cần thiết.

Ví dụ:

List of Headings

i The future of urban planning in Ameria

ii Conflicting ideas through the history of urban planning

iii Urban planning has a long and varied history

iv Financial problems helped spread an urban planning concept

v The background to one particular planned community

vi Political change obstructs progress in urban planning

vii An urban plan to reduce traffic

 (Source: Official Guide to IELTS)

Đoạn văn:

The notion of planning entire communities prior to their construction is an ancient one. In fact, one of the earliest such cities on record is Miletus, Greece, which was built in the 4th century BC. Throughout the Middle Ages and the Renaissance, various planned communities (both theoretical and actual) were conceived. Leonardo da Vinci designed several cities that were never constructed. Following the Great Fire of London in 1666, the architect Christopher Wren created a new master plan for the city, incorporating parkland and urban space. Several 18th-century cities, including Washington D.C., New York City, and St Petersburg, Russia, were built according to comprehensive planning.

Tiêu đề đúng: iii: Urban planning has a long and varied history (Quy hoạch đô thị có lịch sử dài và đa dạng)

Trong ví dụ trên, tiêu đề “ii: Conflicting ideas through the history of urban planning” (Các ý tưởng trái ngược nhau trong lịch sử của quy hoạch đô thị) “iii” có ý tưởng tương đối giống nhau khi đều đề cập đến “urban planning” và “history”. 

Đọc đoạn văn, thí sinh cũng thấy cả bài đề cập đến quy hoạch đô thị và các sự kiện liên quan trong quá khứ. Cả hai đều trùng khớp với đoạn “ii” và “iii”. Để tìm được đáp án đúng, thí sinh cần phải nhận ra sự khác nhau giữa hai tiêu đề này và đối chiếu lại với thông tin trong đoạn văn. Cụ thể ở đây tiêu đề “ii” đề cập về “conflicting ideas” (các ý tưởng mâu thuẫn nhau), còn tiêu đề “iii” đề cập về “long and varied history” (lịch sử dài và đa dạng). Bài đọc không đề cập đến các conflicting ideas” mà chỉ đề cập đến các sự kiện và ý tưởng khác nhau. Vì vậy, đáp án là “iii”. 

Thông tin chứa trong bài nhưng không phải thông tin chính

Dạng matching headings yêu cầu thí sinh hiểu được ý chính của đoạn thay vì chỉ nắm được thông tin chi tiết trong bài, nên đề bài sẽ thường đưa những thông tin có chứa trong bài nhưng không phải thông tin chính. Đây là cách để đánh giá xem người đọc có thật sự hiểu đoạn văn được viết để truyền tải thông chính gì. 

List of Headings

i Local art and craft work to take home

ii Inexpensive things to eat straight from the countryside

iii Toys for children of all ages

iv Invent a new style for yourself at bargain prices

v London has one of the best markets

vi Find gifts for winter celebrations

vii Sell what you don’t need

Đoạn văn:

Markets are also good places to buy clothes. Some sell cheap new and second-hand clothes, while others specialise in vintage or ethically made clothes and original items. The markets of London are some of the best in the world for those who want to create a unique look for themselves. Many new designers start with a market stall, so if you are looking for a totally original item of clothing, you could get something really special at a bargain price at Brick Lane, Spitalfields or Portobello Road markets. 

(Chợ cũng là nơi tốt để mua quần áo. Một số chợ bán quần áo mới và đồ cũ giá rẻ, trong khi một vài chợ khác chuyên về quần áo cổ điển hoặc quần áo dân tộc và các mặt hàng nguyên bản. Các khu chợ ở London là một trong những khu chợ tốt nhất trên thế giới dành cho những ai muốn có một diện mạo độc đáo cho riêng mình. Nhiều nhà thiết kế mới bắt đầu với một gian hàng trong chợ, vì vậy nếu bạn đang tìm kiếm một mặt hàng quần áo hoàn toàn nguyên bản, bạn có thể mua được thứ gì đó thực sự đặc biệt với giá hời tại các chợ Brick Lane, Spitalfields hoặc Portobello Road.)

Tiêu đề đúng: iv: Invent a new style for yourself at bargain prices (Tạo ra một phong cách mới cho bản thân với giá hời)

Ở trong danh sách tiêu đề có tiêu đề “v: London has one of the best markets (London có một trong những chợ tốt nhất). Thông tin này có thể dễ dàng tìm thấy trong bài “Các khu chợ ở London là một trong những khu chợ tốt nhất trên thế giới dành cho những ai muốn có một diện mạo độc đáo cho riêng mình.” Thông tin này không sai nhưng chỉ đóng vai trò làm ví dụ trong bài và không đưa ý chính.

Tiêu đề không chứa từ khóa trong đoạn văn

Trường hợp 1: Đáp án không chứa từ khóa giống hoàn toàn mà chỉ chứa từ khóa đã được viết lại với nghĩa tương đương (paraphrase)

Khi làm bài đọc nếu thí sinh chỉ tập trung vào những đáp án có từ khóa giống hệt trong bài thì có khả năng sẽ chọn phải đáp án bẫy.

Ví dụ: 

List of Headings

i the disappearance of traditional playground sports

ii the disappearance of classic playground games

iii the dangers of the playground

iv the best traditional games in Britain

v possible explanations for the bans

vi not a very British bulldog

vii no real support for the bans

viii differing opinions about the bans

ix different ways of playing

x a closer look at some traditional games

Đoạn văn:

A survey has suggested that traditional pastimes are increasingly being banned at break times in primary schools. Number one on the list is chasing game British Bulldog, followed by leapfrog and conkers.

Tiêu đề đúng “ii: the disappearance of classic playground games” (Sự biến mất của các trò chơi truyền thống).

Đáp án này không chứa từ khóa giống hệt mà chỉ chứa từ khóa được viết lại cùng nghĩa: 

+ classic games = traditional pastimes (trò chơi cổ điển = trò chơi truyền thống)

+ increasingly being banned = disappearance (việc bị cấm ngày càng tăng lên = sự biến mất: nghĩa ở đây sẽ không tương đương hoàn toàn nhưng có thể suy ra được: càng ngày càng bị cấm thì trò chơi sẽ dần biến mất)

Nếu thí sinh chỉ chú ý tìm từ khóa hoàn toàn giống trong đáp án thì rất dễ bị bẫy bởi các đáp án “v”, “vii”, “viii” vì chứa từ “ban” – từ khóa được viết nguyên trong đoạn.

Trường hợp 2: Không chứ từ khóa và không chứa từ khóa được viết lại

Ở dạng này, thí sinh sẽ không tìm thấy bất cứ từ khóa hay từ đồng nghĩa với từ khóa nào trong phần tiêu đề. Muốn chọn được đáp án đúng, thí sinh phải đọc lướt (skim) cả đoạn để xem đoạn văn nói về gì

Ví dụ: 

List of Headings

i A solution which is no solution

ii Changing working practices

iii Closing city centres to traffic

iv Making cars more environmentally friendly

v Not doing enough

vi Paying to get in

vii A global problem

Đoạn văn:

Other, more forward-thinking, planners know that more and more drivers and cars are taking to the roads every day, and they are unwilling to encourage more private automobiles when public transport is so much better both for people and the environment. For this reason, the American government has decided to spend some $7 billion on helping to increase capacity on public transport systems and upgrade them with more efficient technologies. But environmentalists complain that such funding is tiny compared with the $50 billion being spent on roads and bridges.

(Source: Complete ielts band 4-5)

Tiêu đề đúng: “v” Not doing enough” (Làm chưa đủ)

Tiêu đề này không chứ từ khóa hay từ khóa được viết lại nào tìm được trong đoạn văn. Để tìm được đáp án đúng, thí sinh phải đọc cả đoạn để hiểu kết cấu của đoạn và đoạn muốn nói gì. 

Cụ thể thông tin ở phần cuối của có chỉ ra “For this reason, the American government has decided to spend some $7 billion on helping to increase capacity on public transport systems and upgrade them with more efficient technologies. But environmentalists complain that such funding is tiny compared with the $50 billion being spent on roads and bridges.”

(Vì lý do này, chính phủ Mỹ đã quyết định chi khoảng 7 tỷ đô la để giúp tăng sức chứa cho các hệ thống giao thông công cộng và nâng cấp chúng với các công nghệ có hiệu quả cao hơn. Nhưng các nhà bảo vệ môi trường phàn nàn rằng số tiền tài trợ như vậy là rất nhỏ so với 50 tỷ đô la được chi cho cầu đường)

Đọc cả đoạn này, thí sinh mới suy ra được là dù chính phủ đã có biện pháp khắc phục, nhưng biện pháp đó là chưa đủ.

Thông tin chính không ở câu đầu và câu cuối của đoạn

Một trong những lời khuyên khi làm các dạng bài tìm ý chính đó là đọc câu đầu và câu cuối để tìm ý chính vì kết cấu của bài viết thường có “câu chủ đề” (topic sentence) hoặc “câu tổng kết” (concluding sentence), nhằm nêu ý chính hoặc tóm tắt ý chính của bài. Tuy nhiên có những trường hợp đề ra bẫy bằng cách không tập trung ý chính vào hai vị trí này.

Trường hợp 1: Câu chủ đề không phải câu đầu trong đoạn.

Ví dụ: 

Compared to some other professions, human services work does not pay very well. However, on a personal level, it can be very rewarding. Human services work brings you into contact with people every day. To be good at this kind of work, you need to like people. The challenge of the work is to help people become independent, and not to rely on the services that you provide. A person under the guidance of a good human services worker learns how to help himself. By this way, you create value not for this individual but for the whole society. 

(Source: Basic IELTS Reading)

(So với một số ngành nghề khác, công tác dân sinh không được trả lương cao. Tuy nhiên, ở mức độ cá nhân, công việc này có thể rất xứng đáng. Công tác dân sinh giúp bạn tiếp xúc với mọi người mỗi ngày. Để làm tốt loại công việc này, bạn cần phải thích mọi người. Thách thức của công việc là giúp mọi người trở nên độc lập và không phụ thuộc vào các dịch vụ mà bạn cung cấp. Một người dưới sự hướng dẫn của một nhân viên công tác dân sinh hoặc được cách tự giúp mình. Bằng việc làm được điều đó, bạn tạo ra giá trị không chỉ cho cá nhân đó mà cho cả xã hội.)

Câu đầu tiên của đoạn này là câu chuyển tiếp vào đề. Câu này dẫn vào câu chủ đề là câu thứ hai. Phần còn lại của đoạn văn có các câu hỗ trợ giải thích hoặc phát triển ý chính của câu chủ đề.

Trường hợp 2: Không có câu chủ đề

Đôi khi một đoạn văn giúp phát triển cùng một luận điểm giống như đoạn trước. Một câu chủ đề mới ở đoạn này sẽ là thừa. Trong một số trường hợp cách kết nối giữa đoạn trước và đoạn sau, các ý giữa các câu được sử dụng hiệu quả đến mức câu chủ đề có thể được ẩn trong từng phần của đoạn văn. 

Ví dụ: 

One of the most common butterflies of the ten thousand species in North America is

the monarch butterfly. It is also one of the most beautiful. The adult lays tiny green eggs on

the leaves of the milkweed plant, which the young will eat when the eggs hatch. The baby butterfly does not have wings. It is a caterpillar. It will shed its skin four times as it matures.

Monarchs leave their northern homes when summer is over and travel in large groups to

find a warm winter home in the south. In the spring, they return north again.

(Source: Basic IELTS Reading)

(Một trong những loài bướm phổ biến nhất trong số mười nghìn loài ở Bắc Mỹ là bướm vua. Nó cũng là một trong những loài đẹp nhất. Con trưởng thành đẻ trứng nhỏ màu xanh lá cây vào lá của cây bông sữa mà con non sẽ ăn khi trứng nở. Bướm non không có cánh mà là sâu bướm. Nó sẽ rụng lột xác bốn lần trong quá trình trưởng thành. Bướm vua rời khỏi ngôi nhà phía bắc của chúng khi mùa hè kết thúc và di cư theo nhóm lớn để tìm một ngôi nhà ấm áp vào mùa đông ở phía nam. Vào mùa xuân, chúng quay trở lại phía bắc một lần nữa.)

Đoạn trên không có câu chủ đề mà cả bài tổng hợp lại mô tả cuộc đời của loài bướm vua (điều này được thể hiện xuyên suốt toàn bài)

Dạng bài Matching features

Giới thiệu dạng bài Matching features

Thí sinh được yêu cầu phải nối một danh sách các thông tin với một danh sách lựa chọn. Các lựa chọn là một nhóm đặc điểm rút ra từ văn bản và được xác định bằng các chữ cái khác nhau. Có thể một số lựa chọn sẽ không được hoặc ngược lại có những lựa chọn sẽ được sử dụng nhiều hơn một lần. Ở yêu cầu của đề bài sẽ thông báo cho thí sinh nên đáp án có xuất hiện một trong các trường hợp trên.

Ví dụ: Hình ảnh dưới đây là một ví dụ về dạng bài Matching Features, trong đó bài cung cấp một đoạn văn và đưa ra các câu hỏi. Trong câu hỏi có 2 mục, gồm một câu/đoạn văn và mục đề cập đặc điểm để thí sinh lựa chọn nối phù hợp. 

IELTS Reading - Dạng câu hỏi Matching featuresVí dụ về dạng bài Matching Features

Yêu cầu kỹ năng:

  • Có kỹ năng scan, tìm kiếm thông tin

  • Tìm được keyword chính và cả từ đồng nghĩa

  • Hiểu đúng yêu cầu và cách làm bài

Các bước làm dạng bài Matching features

Khi gặp các câu hỏi dạng bài Matching features, thí sinh có thể tiếp cận theo các bước sau đây:

Bước 1: Đọc hiểu ý chính của các câu mà đề bài đưa ra

Người đọc cần dựa vào các keywords và ý chính nêu ra trong câu của đề bài rồi dùng đó làm manh mối để tìm kiếm thông tin đó trong bài đó. 

Ví dụ: 

Trích các câu hỏi 23 đến 26 của bài đọc ‘Should we bring extinct species back to life’, quyển IELTS Cambridge 15, NXB ĐH Cambridge, Test 2, Reading passage 2, năm 2020, trang 43.

Câu 23: Re-introducing an extinct species to its original habitat could improve the health of a particular species living there.

(Đưa một loài đã tuyệt chủng trở lại với môi trường sống ban đầu của chúng có thể cải thiện sức sống của một loài khác đang sống tại đó)

Dựa vào các keywords để tìm và đọc kỹ những đoạn thông tin trong bài đọc đề cập đến mối liên hệ của việc tái sinh một loài đã tuyệt chủng nào đó trong môi trường sống tự nhiên sẽ kéo theo sự phát triển của một loài khác. 

Câu 24: It is important to concentrate on the causes of an animal’s extinction.

(Tập trung vào các nguyên nhân gây ra sự tuyệt chủng của một loài động vật nào đó thì quan trọng) 

Dựa vào các keywords để tìm và đọc kỹ những đoạn thông tin trong bài đọc đề cập đến tầm quan trọng của việc tậo trung vào các nguyên nhân gây ra sự tuyệt chủng của một loài động vật nào đó.

Câu 25: A species brought back from extinction could have an important beneficial impact on the vegetation of its habitat.

(Đưa một loài đã bị tuyệt chủng trở lại có thể có tác động hữu ích quan trọng đối với hệ thực vật ở môi trường sống của chính loài đó)

Dựa vào các keywords để tìm và đọc kỹ những đoạn thông tin trong bài đọc đề cập đến mối liên hệ tích cực của việc tái sinh một loài đã tuyệt chủng nào đó trong môi trường sống tự nhiên có thể tác động tích cực đến hệ thực vật của khu vực mà loài đó sống. 

Câu 26: Our current efforts at preserving biodiversity are insufficient.

(Những nỗ lực hiện tại của con người chúng ta trong việc bảo tồn đa dạng sinh học là vẫn chưa đủ)

Dựa vào các keywords để tìm và đọc kỹ những đoạn thông tin trong bài đọc đề cập đến việc khẳng định nỗ lực hiện nay của con người trong bảo tồn đa dạng sinh học là chưa đủ.

Bước 2: Dựa vào keywords để tìm kiếm và khoanh vùng thông tin trong bài đọc

Dạng câu hỏi Matching Features đưa ra hai danh sách thông tin: 1) danh sách các câu thể hiện ý kiến, và 2) danh sách tên người thể hiện ý kiến đó. Thông thường các thí sinh có xu hướng dựa vào danh sách tên riêng để làm manh mối tìm kiếm thông tin bên bài đọc do tên riêng thường viết hoa nên dễ tìm. Tuy nhiên, cách này có một nhược điểm là bên bài đọc có thể đề cập đến người đó bằng các đại từ He/she, hoặc chỉ đề cập đến họ của người đó, khiến thí sinh không biết là đại từ He/she đó là đang đề cập đến ai và đôi khi tên người đó xuất hiện nhiều lần ở những chỗ khác nhau trong bài đọc, khiến thí sinh mất thời gian tìm tên người đó và đọc hết tất cả các ý kiến mà người đó trình bày.

Cách tốt nhất là thí sinh dựa vào danh sách các câu thể hiện ý kiến, vì trên thực tế là một ý tưởng/ ý kiến thì chỉ đề cập một lần trong bài, nhưng tên người thì có thể đề cập nhiều lần trong bài. Điều này sẽ giúp thí sinh tìm kiếm thông tin nhanh hơn.

dang-bai-matching-features

Bước 3: Đọc hiểu ý chính của các câu bên bài đọc xem có khớp với ý đang được tìm

Thí sinh cần đọc hiểu các ý của bên bài đọc và kết hợp tìm các cụm từ đồng nghĩa để đối chiếu xem thông tin giữa bên câu hỏi và bên bài đọc có trùng khớp với nhau hay không.

Ví dụ: Trích đoạn của bài đọc ‘Should we bring extinct species back to life’, quyển IELTS Cambridge 15, NXB ĐH Cambridge, Test 2, Reading passage 2, năm 2020, trang 40.

B In Australia, the thylacine, more commonly known as the Tasmanian Tiger, is another extinct creature which genetic scientists are striving to bring back to life. ‘There is no carnivore now in Tasmania that fills the niche which thylacines once occupied,’ explains Michael Archer of the University of New South Wales. He points out that in the decades since the thylacines went extinct, there has been a spread in a ‘dangerously debilitating’ facial tumor syndrome which threatens the existence of the Tasmanian devils, the island’s other notorious resident. Thylacines would have prevented the spread because they would have killed significant number of Tasmanian devils. ‘If that contagious cancer had popped up previously, it would have burned out in whatever region it started. The return of thylacines to Tasmania could help to ensure that devils are never again subjected to risks of this kind’. 

Đoạn văn trên cho thấy ý chính là sự tuyệt chủng của loài hổ Tasmanian đã dẫn đến sự lan truyền của hội chứng u bướu trên mặt có thể gây tử vong mà đe doạ đến sự tồn vong của loài thú mặt quỷ Tasmanian (Tasmanian devils), vốn mà một loài khác cũng sống trên đảo. Sự trở lại của loài hổ này có thể đảm bảo loài thú mặt quỷ Tasmanian sẽ không chịu rủi ro bệnh nữa. Ý này trùng khớp với ý câu 23 (Re-introducing an extinct species to its original habitat could improve the health of a particular species living there). Các cụm từ đồng nghĩa bao gồm:

  • Re-introducing = the return of

  • an extinct species = thylacine, Tasmanian tiger

  • a particular species living there = the Tasmanian devils, the island’s other notorious resident

  • improve the health = help to ensure that devils are never again subjected to risks of this kind

Người đang nói ý này là Michael Archer, vậy đáp án câu 23 là B.

D This complicated process and questionable outcome and begs the question: what is the actual part of this technology? For us, the goal has always been replacing the extinct species with a suitable replacement, explains Ben Novak, ‘When it comes to breeding, band-tailed pigeons scatter and make maybe one or two nests per hectare, whereas passenger pigeons were very social and would make 10,000 or more nests in one hectare. ‘Since the disappearance of this key species, ecosystems in the eastern US have suffered, as the lack of disturbance caused by thousands of passenger pigeons wrecking trees and branches means there has been minimal need for regrowth. This has left forests stagnant and therefore unwelcoming to the plants and animals which evolved to help regenerate the forest after a disturbance’, explains Novak. A hybridised band-tailed pigeon, with the added nesting habits of a passenger pigeon, could, in theory, re-establish that forest disturbance, thereby creating a habitat necessary for a great many other native species to thrive.

Đoạn văn trên cho thấy ý chính là sự biến mất của loài bồ câu viễn khách (passenger pigeon) đã khiến cho hệ sinh thái ở khu vực phía tây nước Mỹ bị tổn thương khi mà sự quấy nhiễu do các hoạt động làm tổ của loài chim này đã sụt giảm, khiến cho cây cối không có động lực tái sinh, khiến các khu rừng trở nên trì trệ và kém thu hút cho các loài động thực vật khác. Vậy nên loài band-tailed pigeons sẽ thay thế giúp làm nhiễu loạn và tái sinh khu rừng. Ý này trùng khớp với ý câu 25 (A species brought back from extinction could have an important beneficial impact on the vegetation of its habitat). Các cụm từ đồng nghĩa bao gồm:

  • A species brought back from extinction = passenger pigeon

  • an important beneficial impact = re-establish that forest distubance

  • the vegetation of its habitat = a great many other native species to thrive

Người đang nói ý này là Ben Novak, vậy đáp án câu 25 là A.

F While the prospect of bringing extinct animals back to life might capture imaginations, it is, of course, far easier to try to save an existing species which is merely threatened with extinction. ‘Many of the technologies that people have in mind when they think about de-extinction can be used as a form of “genetic rescue”,’ explains Beth Shapiro. She prefers to focus the debate on how this emerging technology could be used to fully understand why various species went extinct in the first place, and therefore how we could use it to make genetic modifications which could prevent mass extensions in the future. ‘I would also say there’s an incredible moral hazard not to do anything at all,’ she continues.’ We know that what we are doing today is not enough and we have to be willing to take some calculated and measured risks’.

Đoạn văn trên cho thấy ý chính là nên tập trung công nghệ này vào việc tìm hiểu kỹ lưỡng tại sao một loài nào đó lại trở thành tuyệt chủng để từ đó ngăn chặn các sự tuyệt chủng trên diện rộng sau này. Ý này trùng khớp với ý câu 24 (It is important to concentrate on the causes of an animal’s extinction). Các cụm từ đồng nghĩa bao gồm:

  • concentrate on = focus 

  • the causes of an animal’s extinction = why various species went extinct

Người đang nói ý này là Beth Shapiro, vậy đáp án câu 24 là C.

Đoạn văn trên cũng khẳng định ý kiến là những gì con người chúng ta đang làm hiện nay là không đủ. Ý này trùng khớp với ý câu 26 (Our current efforts at preserving biodiversity are insufficient). Các cụm từ đồng nghĩa bao gồm:

  • Our current efforts = what we are doing today

  • Not enough = insufficient

Người đang nói ý này là Beth Shapiro, vậy đáp án câu 24 là C.

Một số lưu ý khi làm dạng bài Matching features

Khi làm dạng bài Matching features trong IELTS Reading, người đọc cần lưu ý đọc kỹ yêu cầu đề bài và làm đúng như hướng dẫn. Đề bài yêu cầu ghi các chữ cái (letter) đại diện cho đáp án thì ghi chữ cái (A, B hoặc C) và đừng ghi tên hay ghi năm vào tờ đáp án. Ngoài ra, khi đề bài có ghi chú ‘thí sinh có thể sử dụng bất kỳ chữ cái nào nhiều lần’ tức là sẽ có ít nhất một chữ cái (đáp án) được sử dụng hai lần.  

Dạng bài Matching sentence endings

Giới thiệu dạng bài Matching sentence endings

Thí sinh được cung cấp nửa đầu của câu vào nội dung của bài đọc và hoàn thành các câu này bằng danh cách các phương án khả thi được cung cấp. Có nhiều phương án để lựa chọn hơn là những câu chưa hoàn thiện. 

image-alt

Yêu cầu kỹ năng:

  • Nẵm rõ các thông tin và xác định được vị trí thông tin nằm trong văn bản

Các bước làm dạng bài Matching sentence endings

Khi gặp các câu hỏi dạng bài Matching sentence endings, thí sinh có thể tiếp cận theo các bước sau đây:

Bước 1: Đọc câu hỏi đầu tiên; gạch chân hoặc đánh dấu các từ khóa.

Bước 2: Sử dụng các từ khóa trong câu để tìm các từ trong bài văn.

Bước 3: Đọc kỹ các thông tin có trong bài văn và hiểu kỹ chúng.

Bước 4: Đọc lướt qua các đuôi; gạch chân hoặc đánh dấu các từ khóa.

Bước 5: Chọn các đuôi phù hợp với các ý tưởng trong bài văn.

Bước 6: Đảm bảo rằng các đuôi là phù hợp và đúng ngữ pháp.

Ví dụ:

Complete each sentence with the correct ending A-G below.

Waste disposal

Until now, Britain has opted for burying most of its rubbish. Around four fifths of municipal waste is sent to landfill sites. This approach has made considerate sense in an island with sites to spare because of its particular geology and its history of quarrying.

But landfill sites are getting scarce, particularly in southern England, where most people live. And they are becoming expensive to run as the government insists on safeguards against environmental hazards like the leaching of toxic waste into underground aquifers. But the biggest constraint on dumping stuff in landfill sites is Britain’s commitment to meet – about 60% of household rubbish – that is put into landfill sites. These targets are intended to cut emissions of methane (a greenhouse gas) and to reduce the risk of water contamination from landfill.

If you can’t bury it, an alternative is to burn it. This certainly seemed to be the initial thrust of government thinking a few years ago. A programme to build as many as 130 new incinerators was envisaged. But burning also entails environmental risks. Although new incinerators are now much cleaner than earlier ones, people are scared of exposure to dangerous chemicals like cancer-producing dioxins. The political difficulties in selling an expansion of incineration are immense.

  1. The presense of old mines in Britain has

  2. To make landfill sites safer, the authorities have

  3. In order to comply with European targets, Britain has

  4. Burning rubbish is not popular because people have

A. agreed to reduce waste levels.

B. replaced old incinerators.

C. destroyed most of the municipal waste.

D. encouraged rubbish burial.

E. released toxic waste

F. imposed safety laws.

G. become anxious about the pollution levels.

Các bước làm bài chi tiết

1. Gạch chân từ khóa cho sẵn

Nhìn vào câu 13, chúng ta có các từ khóa như “old mines” và “Britain”.

2. Sử dụng từ khóa để xác định đoạn thông tin:

  1. Ta có Britain ngay trong câu đầu tiên.

  2. Tiếp đến, “old mines” đã được paraphrase thành “quarrying”, và tác giả đã biến nó thành cụm “history of quarrying – lịch sử làm mỏ”. Từ đó, có thể suy ra, thông tin của câu 15 nằm ở đoạn đầu tiên.

3. Sau khi xác định được vị trí của thông tin, ta tiến hành đọc hiểu.

  1. Đoạn văn nói: “Cho đến bây giờ, nước Anh đã chọn chôn đa phần rác thải. 4/5 rác thải công cộng được gửi đến các bãi chứa rác. Các thức này khá hợp lí với một hòn đảo với nhiều đất trống vì vị trí địa lí đặc biệt cũng như lịch sử làm mỏ của nó.”

4. Đọc các đuôi và xác định từ khóa.

  1. Đuôi thứ 1, “agreed to….” nếu ghép vào câu cho sẵn hoàn toàn không hợp nghĩa của câu. Sự hiện diện của các mỏ cũ không thể đồng ý làm gì đó.

  2. Đuôi thứ 2, có từ khóa “incinerators” hoàn toàn không được nhắc đến.

  3. Đuôi thứ 3, không có thông tin về việc “destroy municipal garbage”

  4. Đuôi thứ 4, có từ khóa “burial” là danh từ của động từ bury. Ta có thể tạm thời để lại.

  5. Đuổi thứ 5, 6 và 7 hoàn toàn không có thông tin về việc “release toxic waste, impose safety laws, become anxious about the environment level”.

Từ đó, ta có thể loại trừ đáp án thứ 4. Phân tích cụ thể hơn, ta có thể thấy, việc có lịch sử làm mỏ đã khiến cho “this approach” – “việc chôn rác” (burial) trở nên hợp lí với hòn đảo này.

Dạng bài Sentence Completion

Giới thiệu dạng bài Sentence Completion

Đây là dạng bài điền từ hoặc/và chữ số vào ô trống với giới hạn số lượng từ và chữ số vào đề bài. Nếu thí sinh viết nhiều hơn số lượng đề bài đã cho thì sẽ bị mất điểm. 

image-altIELTS Reading Matching Sentence Ending

Yêu cầu kỹ năng:

  • Có kỹ năng scan tìm kiếm thông tin chi tiết trong văn bản

  • Có thể chọn được các từ phù hợp và xúc tích

  • Hiểu được các thông tin văn bản đề cập

Các bước làm dạng bài Sentence Completion

Khi gặp các câu hỏi dạng bài Sentence Completion, thí sinh có thể tiếp cận theo các bước sau đây:

Bước 1: Đọc kỹ câu hỏi

Bước 2: Xác định loại từ cần điền vào chỗ trống (Danh từ, tính từ, trạng từ …) và số từ cần điền (1 từ, 2 từ hay 3 từ)

Bước 3: Lựa chọn một vài từ khóa dễ scan (tên riêng, tên địa danh, thuật ngữ)

Bước 4: Nếu không có những từ khóa dễ scan thì nên chọn một từ/cụm từ và dự đoán trước một vài từ đồng nghĩa/trái nghĩa.

Bước 5: Scan bài đọc để tìm phần chứa thông tin cần thiết

Bước 6: Đối chiếu phần chứa thông tin và câu hỏi. Nếu không phù hợp thì quay lại bước 5

Ví dụ:

Chúng ta cùng đi phân tích chi tiết chiến lược qua bài đọc sau:

Power-packed fliers

For their size, birds are tremendously powerful creatures. We know this thanks to an ingenious series of tests performed by researchers at Duke University in North Carolina. The researchers placed a specially trained budgerigar in a wind tunnel and measured how much muscle power it needed to maintain flight at various airspeeds up to 50 kilometres per hour. The small bird had to be trained, not only because it had to fly in the artificial environment of the wind tunnel, but also because it had to do so while wearing a tiny oxygen mask.

The mask allowed zoologist Vance Tucker and his colleagues to monitor the budgerigar’s oxygen demand, and thus the amount of mechanical energy it was producing. What they discovered was experimental proof of the incredible power-to-weight ratio of birds. Tucker’s team found that the 35- gram budgerigar’s flight muscles were delivering a peak power of one to four watts to maintain continuous flight. That might not sound very much on its own, but it’s pretty impressive when the bird’s size is taken into account: it works out as 200 watts of continuous mechanical power for every kilogram of the bird’s muscle mass.

And that’s the reason that people have always failed when they tried to fly by flapping wings attached to their arms: the average human can only produce around ten watts per kilogram of their muscle mass. It’s not that we never had the time to fly – we have simply never had the energy. To fly, people need machines and to make a flying machine, we need to understand how birds control their flight.

Bài đọc trích từ cuốn Action Plan – Cambridge

Use no more than THREE WORDS to fill in the blank

  1. Scientists have done experiments on birds in a………………..

  2. The birds reached a maximum hourly flight distance of………………

  3. The aim of scientists was to calculate the amount of ………………. they needed to fly

Các bước làm bài chi tiết:

1. Đọc kỹ yêu cầu của đề bài, đặc biệt là số từ cần điền. 

Trong bài này, đề bài yêu cầu ‘’Không điền quá ba từ’’. Hơn thế nữa, những chữ cần điền hoàn toàn nằm trong bài đọc, do đó, không thể điền những từ khác vào, cho dù chúng đồng nghĩa với

2. Đọc kỹ câu hỏi số 4 

Đại ý câu hỏi là: “Các nhà khoa học đã làm nhiều thí nghiệm lên chim trong một …..”

3. Xác định loại từ cần điền

Trước từ cần điền có mạo từ “a”, do đó sau từ đó phải là một danh từ.

4. Lựa chọn các từ khóa để scan

Trong câu 4, các bạn có thể dựa vào những từ như “scientists” ; “experiments” ; “birds”. Lưu ý, người ra đề có thể sử dụng từ đồng nghĩa để thử thách thí sinh, do đó, nếu đã scan những từ trên nhưng không tìm thấy đoạn thông tin cần thiết, rất có thể từ các từ khóa trên đã được paraphrase thành một từ khác.

5. Xác định từ đồng nghĩa của những từ khóa trên

Câu thứ 3 của đoạn văn, “The researchers placed a specially trained budgerigar in a wind tunnel and measured how much muscle power it needed to maintain flight at various airspeeds up to 50 kilometers per hour.” Ở đầu câu có từ “the researchers” và “in a wind tunnel”. Tác giả đã paraphrase từ “researchers” thành “scientists” với nghĩa gần tương đương

6. Sau khi xác định được vị trí của thông tin, tiến hành đọc hiểu để tìm từ khóa. 

Trong câu đã xác định được có chứa cụm “a wind tunnel”. Nhìn lại câu hỏi, ta thấy trước từ cần điền có một mạo từ “a”, vậy rất có thể “wind tunnel” là từ cần điền. Dịch câu văn, ta thấy “Các nhà nghiên cứu đã đặt một budgerigar được huấn luyện đặc biệt trong một đường hầm gió và đo lượng năng lượng cơ bắp cần thiết để nó có thể duy trì bay tại nhiều tốc độ gió khác nhau, lên tới 50 km/giờ.”

Một số lưu ý khi làm dạng bài Sentence Completion

Khi làm dạng bài Sentence Completion trong IELTS Reading, người đọc cần lưu ý câu hỏi xuất hiện theo thứ tự, nói cách khác, phần trả lời câu 2 sẽ nằm sau phần trả lời câu 1 trong bài đọc.

Dạng bài Notes/Table/Flow Chart Completion

Giới thiệu dạng bài Notes/Table/Flowchart Completion

Đề bài sẽ cung cấp một bản tóm tắt một phần trong bài đọc và thí sinh phải hoàn thành với thông tin rút ra từ văn bản. Bản tóm tắt thường chỉ gồm một phần của đoạn văn hơn là toàn bộ. Thông tin đã cho có thể ở dạng: một số câu văn bản được kết nối (được gọi là tóm tắt), một số ghi chú, một bảng có một số ô trống hoặc một phần trống, một loạt các hộp hoặc các bước được liên kết bằng mũi tên để hiển thị một chuỗi sự kiện với một số bước hoặc số phần trống (được gọi là biểu đồ luồng). 

image-alt

IELTS Reading Notes/Table/Flow Chart Completion

Yêu cầu kỹ năng:

  • Xác định được cần điền vào chỗ trống là loại từ nào

  • Có thể scan văn bản để tìm thông tin phù hợp điền vào chỗ trống

  • Dựa vào mũi tên, khung, đánh số để xác định trình tự điền thông tin

  • Chú ý kiểm tra số lượng từ mà đề bài cho phép sử dụng

Các bước làm dạng bài Notes/Table/Flow Chart Completion

Khi gặp các câu hỏi dạng bài Notes/Table/Flow Chart Completion, thí sinh có thể tiếp cận theo các bước sau đây:

Bước 1: Đọc kỹ câu hỏi

Bước 2: Xác định loại từ cần điền vào chỗ trống (Danh từ, tính từ, trạng từ …) và số từ cần điền (1 từ, 2 từ hay 3 từ)

Bước 3: Lựa chọn một vài từ khóa dễ scan (tên riêng, tên địa danh, thuật ngữ)

Bước 4: Nếu không có những từ khóa dễ scan thì nên chọn một từ/cụm từ và dự đoán trước một vài từ đồng nghĩa/trái nghĩa.

Bước 5: Scan bài đọc để tìm phần chứa thông tin cần thiết

Bước 6: Đối chiếu phần chứa thông tin và câu hỏi. Nếu không phù hợp thì quay lại bước 5

Phân tích một ví dụ bài đọc cụ thể để hiểu rõ hơn về chiến lược này:

SILENCE IS NOT ALWAYS GOLDEN

A global survey has found that city dwellers have better hearing than people who live in quiet villages, and scientists now believe that the ear needs exercise to keep in shape.

A team of scientists at the University of Giessen, Germany, has spent over a decade testing the hearing of more than 10,000 people around the world. As expected, people exposed to extremely loud noises at work, such as construction workers, had poor hearing. But the hearing of those living in quiet, rural areas, such as farmers, was just as bad. Orchestral musicians and airline pilots, by contrast, can usually hear well despite exposure to noise at work. And there is little difference between people who go to noisy concerts and those who do not.

Hearing specialists have long believed that prolonged exposure to excessively loud noise degrades hearing and so industrial standards are based on people’s average exposure to sound energy. However, it is the very strong impulses, such as loud bangs, that do the most damage, whereas exposure to continual noise ‘trains’ the ear to tolerate it.

NOTES

  1. Research shows: need to train the ear to make it work well

  2. Geographical research area: (1)…………………………………

  3. Examples of people with poor hearing: (2) ………………………………… (3) …………………………………

and good hearing:

(4) …………………………………

(5) …………………………………

Most dangerous type of noise: (6) …………………………………

Các bước làm bài chi tiết:

1. Đọc kỹ câu hỏi số 1. 

Đề bài hỏi thông tin về “geographical research area”, tạm dịch là “phạm vi nghiên cứu theo địa lý”.

2. Phân tích và xác định thông tin cần điền. 

Rõ ràng, từ loại cần điền là danh từ, và từ này liên quan đến địa lý (tên quốc gia, tên một vùng, lãnh thổ ).

3. Scan đoạn văn, tìm thông tin điền vào câu 1. 

Câu hỏi về “research area”, nên ta tìm trong bài những từ vựng liên quan đến research. Đọc đoạn đầu tiên ta thấy 2 từ liên quan là “scientists” và “testing”. Từ đó đọc tiếp “a team of scientists…has spent testing the hearing of more than 10,000 people around the world”. Như vậy, phạm vi nghiên cứu chính là toàn cầu.

Chú ý: “Germany” cũng là một từ liên quan đến địa lý, nhưng nó chỉ là quê của các nhà khoa học, chứ không phải nơi họ nghiên cứu.

4. Đọc kỹ câu hỏi số 2 và 3. 

Đề bài hỏi thông tin về “ví dụ những trường hợp (người) có khả năng nghe yếu”.

5. Phân tích và xác định thông tin cần điền. 

Dự đoán đây có thể là một nhóm người, hay một nhóm nghề nào đó.

6. Scan đoạn văn, tìm thông tin điền vào câu 2. 

Đề bài hỏi “poor hearing”, nên cần scan những từ nào có nghĩa tiêu cực như “poor”, “bad” hay “negative”. Đoạn 2, dòng 5-7 ta thấy ngay từ “poor”: “As expected, people exposed to extremely loud noises at work, such as construction workers, had poor hearing(tạm dịch: đúng như dự đoán, những người tiếp xúc với tiếng ồn cực to ở chỗ làm, như là công nhân xây dựng, có thính giác kém). Qua đó dễ thấy đáp án câu 2 là “construction workers”.

7. Scan đoạn văn, tìm thông tin điền vào câu 3. 

Từ chỗ câu 2, đọc tiếp ta thấy “But the hearing of those living in quiet, rural areas, such as farmers, was just as bad.” Cụm từ “just as bad” có nghĩa là “cũng tệ như vậy”, tức là, những người nông dân sống trong môi trường yên tĩnh cũng có khả năng nghe tệ như công nhân xây dựng. Qua đó ta chọn đáp án câu 2 là “farmers”.

8. Đọc kỹ câu hỏi số 4 và 5. Trái với 2 và 3, chúng ta cần thông tin ngược lại: những nhóm người nghe tốt (good hearing).

9. Scan đoạn văn, tìm thông tin điền vào câu 4 và 5. Tương tự với 2 và 3, lần này chúng ta sẽ tìm những từ có nghĩa tích cực như “good”, “well”, hay “excellent”. Đoạn 2, dòng 5-6 ta thấy từ “well”: “Orchestral musicians and airline pilots, by contrast, can usually hear well despite exposure to noise at work” (tạm dịch: nhạc công trong dàn nhạc và phi công trái lại thì nghe khá tốt dù họ phải tiếp xúc với tiếng ồn ở nơi làm việc).

10. Đọc kỹ câu hỏi cuối cùng. 

Ở câu này, thông tin cần tìm là loại tiếng ồn nguy hiểm nhất.

11. Scan đoạn văn, tìm thông tin điền vào câu cuối. 

Ở đoạn văn cuối cùng, ta thấy câu đầu tiên có nhắc rất nhiều về tiếng ồn to, nhưng không hề nhắc đến loại nguy hiểm nhất.

12. Đọc đến câu cuối cùng của bài “However, it is the very strong impulses, such as loud bangs, that do the most damage, whereas exposure to continual noise ‘trains’ the ear to tolerate it.” ta thấy ngay yếu tố so sánh nhất “the most damage”. Qua đó, chọn được đáp án là “loud bangs”.

Một số lưu ý khi làm dạng bài Notes/Table/Flow Chart Completion

Khi làm dạng bài Notes/Table/Flow Chart Completion trong IELTS Reading, người đọc cần lưu ý một số điểm sau:

  • Câu hỏi xuất hiện theo thứ tự, nói cách khác, phần trả lời câu 2 sẽ nằm sau phần trả lời câu 1 trong bài đọc.

  • Phần này khác với sentence completion ở chỗ câu hỏi sẽ không ở dạng câu đầy đủ (ví dụ animal type:, size:), nên không phải lo lắng về việc sai ngữ pháp trong câu.

Dạng bài Diagram Labelling

Giới thiệu dạng bài Diagram Labelling

Thí sinh được yêu cầu hoàn thành các nhãn trên một sơ đồ liên quan đến mô tả có trong bài đọc. Ở phần yêu cầu đề bài sẽ ghi cụ thể yêu cầu số lượng từ và chữ thí sinh được điền vào phần còn thiếu.

image-altIELTS Reading Diagram Labelling

Yêu cầu kỹ năng:

  • Cần phải xác định được thông tin đề cập ở vị trí nào trong văn bản

  • Liên hệ thông tin tìm được với biểu đồ 

  • Chọn từ phù hợp để điền vào chỗ còn thiếu

Các bước làm dạng bài Diagram Labelling

Để tìm được câu trả lời chính xác trong thời gian tối ưu, người đọc nên áp dụng ba bước làm bài dạng Dán nhãn biểu đồ trong IELTS Reading (Diagram Labelling)

so-doBa bước làm bài dạng Dán nhãn biểu đồ

Lưu ý: trong bước 1: phân tích câu hỏi, người đọc cần nắm rõ các loại từ khóa trong câu hỏi bao gồm ba loại:

  • Từ khóa khó thay thế: bao gồm các tên riêng, con số nổi bật, hầu như không bao giờ bị thay thế trong bài đọc → Ưu tiên sử dụng loại từ khóa này để tìm kiếm thông tin.

  • Từ khóa dễ thay thế: bao gồm các danh từ và có thể bị thay thế bằng cách diễn đạt khác trong bài đọc → Sử dụng loại từ khóa này để tìm kiếm thông tin khi đề bài không chứa Từ khóa khó thay thế.

  • Từ khóa chìm: bao gồm các động từ, tính từ, hoặc chủ đề của bài đọc. Động từ và tính từ trong hầu hết các trường hợp sẽ bị thay thế bằng từ đồng nghĩa hoặc cách diễn đạt khác trong bài đọc. Chủ đề của bài đọc sẽ được lặp lại nhiều lần nên không có nhiều giá trị trong việc xác định thông tin cần thiết → Sử dụng loại từ khóa này để hiểu nội dung chính của đề bài. Chỉ dùng để tìm kiếm thông tin khi đề bài không chứa 2 loại từ khóa trên, hoặc khi không xác định được cách diễn đạt thay thế cho 2 loại từ khóa trên trong bài đọc.

Thứ tự ưu tiên sử dụng từ khóa để xác định thông tin cần thiết: Từ khóa khó thay thế → Từ khóa dễ thay thế → Từ khóa chìm. Trong trường hợp đề bài không chứa Từ khóa khó thay thế, thí sinh cần sử dụng 2 loại từ khóa còn lại để xác định trông tin cần thiết trong bài đọc.

Đặc biệt, kỹ năng chuyển động mắt (eye movement) rất cần thiết cho Scanning vì nó giúp người đọc chỉ tập trung duy nhất vào việc tìm từ mà không cố đọc hiểu nội dung bài đọc, từ đó tiết kiệm được thời gian làm bài. Cụ thể, đọc bắt đầu từ cuối đoạn văn lên, và theo trình từ từ phải qua trái, cùng lúc hãy dùng một chiếc bút để lướt theo, giúp tập trung sự chú ý của mắt theo chuyển động của bút.

(Trích nguồn: Sách IELTS Reading Techniques – ZIM)

Xét ví dụ sau: 

The electric revolution

Your next car may be electric. We look at the technologies that will bring the revolution.

The main reasons why electric cars are not more popular at present are their price and their relatively small range. Existing battery systems only allow electric cars to travel a distance of between 100 and 160 km. However, this distance may not be a problem for urban drivers. A recent Sydney study reported that 20 percent of journeys were 30 km or less, and recent data from the US suggests that 77 percent of trips taken there are 48 km or less.

An innovative company called Better Place is aiming to make electric cars an option for all drivers. It wants to see existing vehicles replaced by electric vehicles which, it says, offer a number of benefits. Firstly, they can be powered by renewable energy which produces zero emissions. What is more, electric motors are more efficient and can convert more than 90 percent of power into movement, whereas the

efficiency of diesel or petrol engines is less than 20 percent. To achieve its aim, Better Place plans to use technology which is already available.

The plan is simple but revolutionary. It starts with the installation of a home charge point, and through this, the vehicle will be plugged into the electricity grid whenever it is in the garage, typically at night. In the morning, with a fully charged battery, the car is capable of as much as 160 km in urban motoring conditions. In addition to the home charge point, the battery can be topped up by charge points at work and at supermarkets.

The battery is linked to a control centre by smart technology inside the vehicle. Better Place can then ensure that the car is charged with electricity from renewable sources at the cheapest price. For longer trips, a navigation system directs the driver to the nearest switch station, where the depleted battery can be replaced with a charged one by a robot within a couple of minutes.

Complete the labels on the diagram below.

Choose NO MORE THAN TWO WORDS AND/OR A NUMBER from the passage for each answer.

de-bai-3Trích nguồn: sách Complete IELTS 4.0-5.0 – Cambridge

Áp dụng các bước làm bài cho câu hỏi 1:

Bước 1: Phân tích câu hỏi:

*Xem lại phần lý thuyết về Keyword trong phần 1 để hiểu cách xác định từ khoá.

vi-du-minh-hoaVí dụ minh họa

Có thể suy ra dạng từ cần điền ở câu 1 là danh từ

Bước 2: Scanning and Skimming

vi-du-minh-hoaVí dụ minh họa

Bước 3:   Chọn từ phù hợp

Đối chiếu ý nghĩa của câu hỏi và đoạn văn:

vi-du-minh-hoaVí dụ minh họa

Đáp án: 1. Electricity grid

  • Luyện tập: Làm tương tự 3 bước trên với những câu hỏi còn lại

  1. 160km

  2. work

  3. price

  4. navigation system

  5. (a) robot

Một số lưu ý khi làm dạng bài Diagram Labelling

Khi làm dạng bài Diagram Labelling trong IELTS Reading, người đọc cần lưu ý một số lỗi sai thường gặp sau:

Dạng bài Short Answer Questions

Giới thiệu dạng bài Short Answer Questions

Thí sinh phải trả lời các câu hỏi liên quan đến thông tin có trong bài đọc. Số lượng chữ và số của câu trả lời sẽ được ghi rõ trong đề bài. Câu trả lời phải bằng các từ có xuất hiện trong bài đọc.

Bài Short Answer Questions có 2 dạng, đó là:

Dạng 1: Không nhiều hơn số từ cho phép

IELTS Reading - Dạng câu hỏi Short answer questions 1Dạng bài 1 - Giới hạn số từ cho phép trong Short Answer Questions

Dạng 2: Không giới hạn từ

IELTS Reading - Dạng câu hỏi Short answer questions 2Dạng bài 2 - Không giới hạn số từ cho phép trong Short Answer Questions

Yêu cầu kỹ năng:

  • Có thể xác định được vị trí nào trong văn bản đề cập tới thông tin quan trọng

  • Hiểu rõ những thông tin chi tiết và đặc biệt

Các bước làm dạng bài Short Answer Questions

Khi gặp các câu hỏi dạng bài Short Answer Questions, thí sinh có thể tiếp cận theo các bước sau đây:

(Đoạn văn mẫu: Trích từ Cambridge IELTS 10 Reading Test 01)

de-thi-mau-ielts-reading-short-answer-questions

Bước 1: Đọc kỹ yêu cầu đề

Ở bước này, học viên cần chú ý xem giới hạn từ cho phép được điền là bao nhiêu.

Ví dụ:

yeu-cau-dang-cau-hỏi-short-answer-questions

Ở ví dụ này, đề yêu cầu chỉ được điền một từ duy nhất và đáp án phải được lấy từ đoạn văn.

Bước 2: Đọc kỹ câu hỏi và gạch chân keyword (từ trọng tâm)

Khi đọc câu hỏi, học viên cần hiểu được ý nghĩa của câu hỏi và xác định được keyword, từ đó dự đoán loại thông tin mà câu hỏi đang yêu cầu là những gì. Keyword trong câu hỏi có thể là từ dùng để hỏi: What, which (cái gì), where (ở đâu), who (ai), when (khi nào), why (lý do), how (như thế nào)… hoặc tên riêng, ngày tháng năm, một mốc thời gian.

Bên cạnh những từ thường không được paraphrase này, keyword còn là những từ có thể được paraphrase (danh từ, tính từ, động từ…), do đó sau khi xác định được keyword, học viên cần nghĩ đến những từ đồng nghĩa hoặc những cách diễn đạt khác cho từ đó.

Ví dụ: 6. Which part of some stepwells provided shade for people?

(Phần nào của một số giếng bậc thang cung cấp bóng râm cho mọi người?)

Ờ đây, keyword là “Which part” (Phần nào) và “provided shade” (cung cấp bóng râm). Dựa vào keyword, học viên có thể dự đoán những dữ kiện và cách paraphrase có liên quan đến việc tránh khỏi ánh nắng mặt trời và đáp án sẽ ở những đoạn nêu ra từng bộ phận của giếng bậc thang.

Bước 3: Sử dụng phương pháp skimming (đọc lướt) để đọc qua văn bản

Ở bước này, học viên có thể đọc lướt qua bài để nắm ý chính nhưng không cần đi sâu vào chi tiết. Học viên cần cảnh giác với những từ khóa và từ đồng nghĩa đã xác định được ở bước 2. Học viên có thể đọc kỹ những câu đầu tiên của mỗi đoạn văn hơn để dễ nắm ý chính hơn.

Ví dụ: Trong đoạn văn mẫu, sau khi skim, người đọc có thể thấy được văn bản nói về “Stepwells” (Giếng bậc thang). Ý chính đoạn một giới thiệu giếng bậc thang được cấu tạo thế nào: “Stepwells comprise a series of stone steps descending from ground level to the water source” (giếng bậc thang bao gồm một loạt các bậc đá thấp dần từ mặt đất đến nguồn nước).

Ý chính đoạn hai nói về những cấu trúc khác nhau của giếng bậc thang: “Some wells are vast… Others are more elaborate” (Một số giếng thì rộng… Một số giếng khác thì phức tạp hơn); và những bộ phận khác của giếng: “They also included… the most impressive features are…” (Chúng cũng bao gồm … các tính năng ấn tượng nhất là …)

Bước 4: Định vị đoạn văn chứa đáp án 

Đến bước này, học viên có thể đọc lại câu hỏi, sau đó đọc từng đoạn văn cho đến khi tìm thấy vị trí thông tin cần tìm. Để tránh trường hợp bị “lạc”, trong quá trình thực hiện bước này, vì câu hỏi tuân theo trật tự văn bản, ngoài keyword của câu hỏi 1 mà học viên cần ghi nhớ, học viên nên để ý tới cả những keyword của câu tiếp theo (ví dụ như là keyword cho câu hỏi số 2). Nếu đọc đến khi tìm được đoạn văn chứa keyword và thông tin cho câu 2, học viên có thể biết được mình đã lướt qua câu 1 ở những đoạn bên trên và có thể thu hẹp phạm vi tìm kiếm.

Ví dụ: Trong đoạn văn mẫu và với những gì đã phân tích được cho ví dụ ở bước 2, học viên có thể tìm được đoạn chứa đáp án.

gach-chan-key-word

Bước 5: Xác định đáp án cần điền và kiểm tra lần cuối

Sau khi đã “khóa” được đoạn văn chứa đáp án, học viên đọc kỹ từng chi tiết để tìm ra những từ chính xác mình sẽ điền vào bài thi.

Ví dụ: Sau khi đọc chi tiết học viên có thể xác định được câu: “…they also included pavilions that sheltered visitors from the relentless heat” (… chúng – giếng bậc thang – cũng bao gồm các sảnh phụ che chắn du khách khỏi sức nóng dữ dội).

Học viên có thể tìm được các từ “sheltered” (che chắn) và “from the heat” (khỏi sức nóng). Vậy, đáp án một từ và là một phần của giếng bậc thang giúp tạo bóng râm là “pavilions” (sảnh phụ).

Sau khi xác định được đáp án, học viên kiểm tra lại giới hạn từ và ngữ pháp xem đã phù hợp với yêu cầu mà đề bài đưa ra hay chưa.

Ví dụ: Trong bài mẫu này, đề bài yêu cầu điền ONE WORD ONLY (duy nhất một từ), do đó đáp án “pavilions” phù hợp với yêu cầu đề.

Một số lưu ý khi làm dạng bài Short Answer Questions

Khi làm dạng bài Short Answer Questions trong IELTS Reading, người đọc cần lưu ý một số điểm sau:

Lưu ý 1: Trả lời câu hỏi bằng các từ được lấy trực tiếp từ văn bản.

Đề bài sẽ có yêu cầu điền đáp án “from the passage/from the text”. Điều này có nghĩa là học viên chỉ được sử dụng các từ mà bài đọc đã sử dụng cho câu trả lời của mình.

Ví dụ: Với câu hỏi: “9. Christians and Muslims were visiting al-Qaryatain to appreciate what saint?” (Những người theo Kitô giáo và Hồi giáo đã đến thăm al-Qaryatain để tri ân vị thần nào?)

Và thông tin trong bài: “…Christians and Muslims have visited the small Syrian town of al-Qaryatain to venerate a saint known as Mar Elian.” (Những người theo Kitô giáo và Hồi giáo đã đến thăm thị trấn nhỏ của Syria là al-Qaryatain để thờ một vị thánh được gọi là Mar Elian.)

Thí sinh sẽ sử dụng chính xác cụm “Mar Elian” như đáp án cuối cùng của mình.

Lưu ý 2: Tuân thủ giới hạn từ

Khi làm dạng bài này, thí sinh phải chú ý đến giới hạn từ mà đề bài đưa ra. Nếu thí sinh vượt quá giới hạn từ, ngay cả khi câu trả lời đúng về mặt ý nghĩa nhưng vẫn sẽ không được tính điểm.

Có một số dạng yêu cầu về giới hạn từ như sau (lưu ý số lượng từ có thể thay đổi):

Write no more than two words for each answer.

Đối với yêu cầu này, nếu thí sinh viết quá hai từ thì sẽ bị mất điểm.

Write no more than two words and/or a number for each answer.

Đối với yêu cầu này, thí sinh có thể đưa ra các câu trả lời không quá hai từ và một số; câu trả lời không quá hai từ; hoặc câu trả lời với một số.

Write one word only for each answer.

Đối với yêu cầu này, thí sinh chỉ có thể đưa ra đáp án với một từ duy nhất.

Ngoài ra, nếu câu trả lời bao gồm số thì số có thể được viết dưới dạng số (9) hoặc chữ (Nine) và sẽ luôn được tính là một từ.

Lưu ý 3: Câu trả lời tuân theo thứ tự của văn bản.

Điều này có nghĩa là thí sinh sẽ tìm thấy đáp án cho câu hỏi 2 ở những phần văn bản theo sau vị trí đáp án câu hỏi 1.

Lưu ý 4: Câu hỏi thường được parapharse (viết lại theo một cách khác không đổi nghĩa).

Những câu hỏi hoặc các câu thông tin được đưa ra để thí sinh tìm đáp án sẽ không đơn giản sử dụng những từ y hệt trong văn bản. Tuy nhiên, chúng vẫn sẽ giữ nguyên ý nghĩa ban đầu và chứa một số keyword (từ trọng tâm). Do đó, điều thí sinh cần làm là hiểu được ý nghĩa của câu hỏi để tìm những từ hoặc những phần thông tin đồng nghĩa trong bài.

Đánh giá:

(0 Đánh giá)

Chia sẻ:

Bình luận

Bạn cần để có thể bình luận và đánh giá.
Đang tải bình luận...

Bài viết cùng chủ đề