Các lỗi sai thường gặp liên quan đến tiêu chí Grammatical Range and Accuracy trong IELTS Writing Task 1

Bài viết giới thiệu về tiêu chí Grammatical range and accuracy cũng như là các lỗi người viết thường mắc phải trong bài viết Task 1.
cac loi sai thuong gap lien quan den tieu chi grammatical range and accuracy trong ielts writing task 1

Khi viết Task 1, người viết không tránh được những lỗi sai trong quá trình viết bài và lỗi liên quan đến tiêu chí ngữ pháp là một trong số đó. Thông qua bài viết, tác giả sẽ giới thiệu chi tiết hơn về tiêu chí liên quan đến ngữ pháp trong phần thi này, đồng thời cũng đưa ra các lỗi thường mắc phải và đề xuất các cách để có thể cải thiện. 

Key takeaways

  • Tiêu chí Grammatical Range and Accuracy (viết tắt là GRA) là một trong bốn tiêu chí trong bảng mô tả điểm liên quan đến việc các cấu trúc câu ngữ pháp đạt được sự đa dạng và chính xác trong bài viết. 

  • Các lỗi sai thường gặp liên quan đến tiêu chí Grammatical Range and Accuracy trong Writing task 1 bao gồm các lỗi về thì, ngữ pháp, giới từ và dấu câu, từ loại.

  • Các cách cải thiện bao gồm: proofreading sau khi đọc bài và luyện tập thường xuyên trên các ứng dụng/phần mềm hiển thị lỗi sai. 

Giới thiệu về tiêu chí Grammatical Range and Accuracy trong Writing Task 1

Tiêu chí Grammatical Range and Accuracy (viết tắt là GRA) là một trong bốn tiêu chí trong bảng mô tả điểm trong cả hai task của kĩ năng Writing. Trước tiên, Grammatical range là khả năng người viết đa dạng hóa các câu, các cấu trúc ngữ pháp, còn Grammatical accuracy là khả năng người viết kiểm soát lỗi ngữ pháp .Tuy nhiên, tiêu chí này đối với phần task 1 sẽ có những đặc điểm khác so với task 2.

Dưới đây là những đặc điểm cho tiêu chí này từ band 4 tới band 7 dựa theo bảng mô tả điểm. 

Nội dung được yêu cầu trong tiêu chí GRA

Dịch

Band 4

  • uses only a very limited range of structures with only rare use of subordinate clauses 

  •  some structures are accurate but errors predominate, and punctuation is often faulty

Người viết chỉ sử dụng một số cấu trúc, hiếm khi sử dụng mệnh đề trạng ngữ.

Một số cấu trúc chính xác nhưng còn rất nhiều lỗi sai và dấu câu thường sử dụng sai.

Band 5

  • uses only a limited range of structures

  • attempts complex sentences but these tend to be less accurate than simple sentences 

  • may make frequent grammatical errors and punctuation may be faulty; errors can cause some difficulty for the reader

Người viết chỉ sử dụng một số cấu trúc, nhưng

cố gắng sử dụng các câu phức tạp. Những câu này có xu hướng kém chính xác hơn các câu đơn giản vì người viết còn thường xuyên mắc lỗi ngữ pháp và dấu câu.

Những lỗi sai này có thể gây ra một số khó khăn cho người đọc.

Band 6

  •  uses a mix of simple and complex sentence forms 

  •  makes some errors in grammar and punctuation but they rarely reduce communication

Người viết sử dụng kết hợp các dạng câu đơn giản và phức tạp. Người viết vẫn còn mắc một số lỗi về ngữ pháp và dấu câu nhưng chúng hiếm khi làm giảm khả năng đọc hiểu.

Band 7

  • uses a variety of complex structures 

  • produces frequent error-free sentences  

  • has good control of grammar and punctuation but may make a few errors

Người viết sử dụng nhiều loại cấu trúc phức tạp và

các câu thường không xuất hiện lỗi sai. Người viết kiểm soát tốt ngữ pháp và dấu câu nhưng vẫn có thể mắc một vài lỗi. 

Các lỗi sai thường gặp liên quan đến tiêu chí Grammatical Range and Accuracy trong Writing task 1

Để có thể đạt được con điểm target phù hợp với lực học thì mỗi người viết nên dựa theo bảng mô tả điểm để cải thiện cũng như là cố gắng đáp ứng được những tiêu chí yêu cầu. Tuy nhiên, tiêu chí GRA sẽ có những yêu cầu khác nhau dựa theo band điểm nhưng nhìn chung người viết vẫn nên có những kiến thức căn bản trong việc sử dụng các cấu trúc câu trong bài thi Writing Task 1. Dưới đây sẽ là vài lỗi sai căn bản liên quan đến tiêu chí GRA trong bài thi Task 1. 

Lỗi sai về Thì

Đối với bài viết Task 1, mỗi đề bài có thể sẽ đưa ra mốc thời gian khác nhau hoặc có thể không đề cập đến thời gian. Vì vậy, người viết cần phải chú ý đến số liệu được đề cập trước khi bắt đầu viết bài để tránh việc xác định sai thì khi viết bài. 

Ví dụ: Người viết sẽ có đề bài sau: ‘’ The charts show the percentage of volunteers by organizations in 2008-2014.’’

image-alt
Người viết nên xác định được mốc thời gian được nhắc đến trong bài là 2008 và 2014. Do đó, người viết sẽ phải sử dụng thì quá khứ đơn để mô tả số liệu. 

Tuy nhiên, với đề bài sau: ‘The chart below gives information about the amount of time children spend with their parents.’’


image-altDo đề bài không có cột mốc thời gian, nên người viết sẽ cần phải sử dụng thì hiện tại đơn để mô tả các số liệu được nêu trong bài. 

Đối với dạng bài Maps trong Task 1, cách xác định thì cũng sẽ tương tự như trên và thường sẽ được chia thành hai dạng. 

  • Dạng 1 bản đồ: Yêu cầu người viết miêu tả một bản đồ và sử dụng thì hiện tại đơn.

  • Dạng nhiều bản đồ: Yêu cầu người viết chọn các chi tiết, miêu tả và so sánh các bản đồ. Với dạng này, người viết dùng thì quá khứ đơn, hiện tại hoàn thành, tương lai tùy theo giai đoạn thời gian của bản đồ.

 Ví dụ: ‘’The diagrams give information about changes in a student accommodation.’’


image-altDo đề bài yêu cầu mô tả sự thay đổi của năm 2010 và hiện tại, nên người viết cần phải sử dụng song song hai thì trong phần thân bài, cụ thể là thì quá khứ đơn cho năm 2010 và hiện tại hoàn thành cho sự thay đổi hiện nay. 

Dạng đề Process cũng sẽ được chia thành hai loại nhưng hầu như khi viết dạng đề này, người viết sẽ luôn sử dụng hiện tại đơn. 

  •   Natural Process – Quá trình diễn ra trong tự nhiên:

Với dạng bài này, người viết thường phải miêu tả vòng đời của động vật/thực vật hoặc 1 chu kỳ, hiện tượng thời tiết diễn ra trong tự nhiên (vòng tuần hoàn của nước, quá trình hình thành một cơn bão, v.v.). Do tính chất trên nên các giai đoạn của một Natural Process sẽ được miêu tả bằng ngôn ngữ chủ động.

  • Manufacturing Process - Quá trình sản xuất:

Dạng bài này thường yêu cầu người viết miêu tả quá trình sản xuất của một thứ nguyên liệu hoặc một sản phẩm cụ thể nào đó. Vì vậy, các giai đoạn của một Manufacturing Process thường sẽ được miêu tả bằng ngôn ngữ bị động.

Ví dụ: The diagram below shows the process of producing smoked fish


image-altVới đề bài trên, người viết sẽ nhận thấy đây là một quá trình sản xuất. Do đó, người viết cần sử dụng hiện tại đơn và dựa trên cấu trúc bị động để viết bài. 

Lỗi sai ngữ pháp

Nói về lỗi sai ngữ pháp thì nhiều vô kể vì điều đó sẽ phụ thuộc vào trình độ của người viết, ví dụ như các lỗi về mạo từ, danh từ đếm được và không đếm được,... Tuy nhiên, ở phần này sẽ tập trung đề cập đến về lỗi khi người viết viết những câu phức tạp trong bài. 

Trong quá trình viết bài để đáp ứng được các đặc điểm của tiêu chí GRA, người viết sẽ cố gắng hạn chế các câu đơn và thường có xu hướng tạo các câu với những cấu trúc phức tạp hơn. Đây là một điểm cộng để người viết có thể đạt được số điểm mong muốn ở tiêu chí này, nhưng việc này cũng sẽ khá rủi ro đối với người viết chưa thật sự vững về ngữ pháp. Do các câu phức tạp thường sẽ có nhiều thành phần trong câu nên nếu người viết không cẩn thận có thể mắc các lỗi ngữ pháp.

Ví dụ: Activities in the healthcare sector, despite a slight rise of 1% in its figure, remains the least preferred option among volunteers.

Với câu trên, động từ ‘’remains’’ chưa có sự hòa hợp với chủ ngữ. Do chủ ngữ của câu trên là ‘’Activities in the healthcare sector’’ với ‘’activities’’ là danh từ chính, còn ‘’in the healthcare sector’’ là bổ ngữ sau của danh từ để cấu tạo thành một cụm danh từ. Vì vậy, khi chia động từ cho câu người viết cần phải dựa vào danh từ chính để chia động từ.

Câu trên sẽ được sửa lại như sau: ‘’ Activities in the healthcare sector, despite a slight rise of 1% in its figure, remain the least preferred option among volunteers.’’

Lỗi sai khi sử dụng giới từ và dấu câu

Sử dụng sai giới từ là một trong những lỗi sai thường hay xuất hiện trong bài viết Task 1. Việc sử dụng sai giới từ có thể được lý giải qua hai nguyên nhân chính. Đầu tiên là vì người viết chưa nắm được giới từ nào sẽ có thể kết hợp với danh từ hoặc tính từ cho trước. Thứ hai là do người viết thường có cách viết dựa theo nghĩa tiếng Việt, đó chính là dịch word-by-word. Việc kết hợp từ không hợp lý như thế sẽ ảnh hưởng đến sự tự nhiên của bài viết hoặc ý nghĩa của cụm từ đang muốn nói đến.

Ví dụ: Khi muốn nêu số liệu với từ ‘’peak’’  thì khi ở dạng là danh từ thì sẽ kết hợp với giới từ ‘’of’’; còn khi ở dạng động từ thì sẽ kết hợp với ‘’at’’

  • The amount of electricity produced peaked at 10,000 units in 2000.

  • The amount of electricity produced reached a peak of 10,000 units in 2000.

Ngoài ra, một lỗi sai khác cũng khá phổ biến trong bài thi này đó chính là về dấu câu. Trong tất cả các đặc điểm của tiêu chí GRA, dấu câu hầu như đều được đề cập đến. Do đó, đặc điểm này cho dù rất nhỏ nhưng thật chất lại rất quan trọng. Vì vậy, người viết nên chú ý nắm vững những kiến thức và cẩn thận hơn khi dùng những cấu trúc dùng dấu câu. 

Ví dụ: While the water that was used to wash clothes accounted for 20% toilets and kitchens consumed 15% and 10% of the total residential water.

Câu trên đang thiếu dấu phẩy cho cấu trúc While vì câu đang có hai mệnh đề, một mệnh đề chính và mệnh đề phụ. Và ngoài ra, công thức của While được viết như sau: “ While Chủ ngữ + động từ, Chủ ngữ + động từ.’’

Câu trên sẽ được sửa lại thành: While the water that was used to wash clothes accounted for 20%, toilets and kitchens consumed 15% and 10% of the total residential water.

Sử dụng sai từ loại

Việc sử dụng sai từ loại cũng là một lỗi khá phổ biến trong bài viết Task 1. Lỗi này có thể xuất phát từ lỗ hổng kiến thức về vị trí của từ loại hoặc do sự bất cẩn của người viết trong quá trình viết bài. 

Ví dụ:  The French and Germans had similar average internet budgets, at €57 and €46 respectively, while the Spanish only spent a merely average of €10 on online shopping.

Ở câu trên, ‘’average’’ đang đóng vai trò là danh từ nên cần phải có tính từ đứng trước để bổ nghĩa, thay vì sử dụng trạng từ ‘’merely’’

Câu trên sẽ được sửa lại như sau: The French and Germans had similar average internet budgets, at €57 and €46 respectively, while the Spanish only spent a mere average of €10 on online shopping.

Làm thế nào để cải thiện các lỗi sai liên quan đến tiêu chí tiêu chí Grammatical Range and Accuracy trong Writing task 1

Proofreading sau khi hoàn thành bài viết

Proofreading là một quá trình xem xét nội dung lần cuối cùng trước khi nội dung đó được trình bày. Trong quá trình proofreading, nội dung sẽ được đọc một cách thận trọng và đảm bảo rằng nội dung có tính mạch lạc, tránh những lỗi sai không cần thiết và vẫn truyền tải được ý nghĩa rõ ràng. Sau khi hoàn thiện bài viết, người viết sẽ thực hiện các bước proofreading để kiểm tra lại nội dung bài viết của bản thân. 

image-alt

  • Bước 1: Đọc lại cả bài chậm rãi

Ở lần đọc để kiểm tra này, người viết nên đọc thật kĩ bài viết của mình từ đầu đến cuối và với mỗi đoạn văn, người viết có thể 5-10s trước khi tiếp tục với đoạn văn sau. Việc cố gắng đọc nhanh có thể buộc não bộ phải bỏ qua một số từ và thực hiện các chỉnh sửa vô thức.

Cho nên, để tránh điều này người viết có thể đọc nhẩm phần nội dung bài viết của bản thân.

Việc này sẽ giúp người viết phải đọc từng từ và theo nghiên cứu khoa viết thì khi người viết nhẩm từng từ như vậy sẽ tác động đến thính giác và não bộ, nghĩa là người viết có thể tưởng tượng rằng bản thân nghe được âm thanh của nội dung khi đọc nhẩm như vậy. Vì vậy, người viết sẽ tập trung hơn để chữa lỗi cho bài viết. 

  • Bước 2: Tìm lỗi sai và sửa các lỗi sai đó

Sau khi đọc nội dung, người viết có thể thấy được những lỗi sai mà bản thân đã mắc phải để sửa lỗi. Người viết nên cẩn thận trong quá trình sửa lỗi ở lần này vì đây đã là những bước hoàn thiện bài viết cuối cùng. Đối với những lỗi sai cần phải sửa toàn bộ một câu văn hoặc nhiều hơn, người viết sau khi chỉnh sửa thì nên thực hiện proofreading cho phần vừa sửa một lần nữa.

  • Bước 3: Đọc và kiểm tra bài viết một lần cuối

Với lần kiểm tra này, người viết không cần phải chia nhỏ bài viết thành từng đoạn và dừng lại như ở bước 1 nữa. Thay vào đó, người viết đọc lại bài viết từ đầu đến cuối để đảm bảo rằng những lỗi sai đã được chỉnh sửa và tính mạch lạc của nội dung đã viết. 

Sử dụng các phần mềm để hiển thị các lỗi

Hiện nay, có rất nhiều phần mềm miễn phí để hiển thị lỗi mà người viết có thể sử dụng ví dụ như Google Doc. Khi người viết viết bài trên những ứng dụng này, những lỗi về ngữ pháp (và cũng như lỗi chính tả) sẽ được gạch đỏ để người viết có thể chỉnh sửa. Vì vậy, khi luyện tập tại nhà thì người viết nên viết trực tiếp trên ứng dụng đó hoặc dán bài viết đã hoàn thiện vào Google doc để kiểm tra các lỗi.

Ngoài ra, người viết có thể sử dụng phần mềm Grammarly để kiểm tra lỗi của bản thân. Hiện Grammarly có thể sử dụng miễn phí nên người viết hoàn toàn có thể dễ dàng sử dụng. Khi viết hoặc dán bài viết trên ứng dụng này, người viết sẽ được được lựa chọn đối tượng người đọc hướng đến, độ trang trọng và mục đích của bài viết (đối với phiên bản miễn phí).

  image-altSau đó, người viết sẽ thấy được những lỗi trong bài viết được gạch đỏ và cũng như là gợi ý để chỉnh sửa. Ngoài ra, Grammarly còn có phần chấm điểm để cho người viết tham khảo thêm. 


image-altNhững ứng dụng này sẽ giúp hiển thị những lỗi ngữ pháp (và cả về từ vựng) cho người viết. Tuy nhiên, bởi vì đây là trí tuệ nhân tạo nên thỉnh thoảng các lỗi đưa ra sẽ không được chính xác hoặc không cần thiết để thay đổi. Vì vây, người viết khi sử dụng nên tự mình phân tích thêm các lỗi được hiển thị để đưa ra hướng chỉnh sửa cuối cùng.

Bài tập và đáp án

Dưới đây là đề bài và bài làm có chứa những lỗi đã được nêu trên, người viết hãy xác định các lỗi đồng thời đưa ra phương án sửa lỗi.

The bar chart shows the types of media that people of different age groups used to get daily news in one country in 2011. 

Summarize the information by selecting and reporting the main features, and make comparisons where relevant.

image-altBài làm: 

The bar chart illustrates the means of media which was used in distinct age groups to get daily news in one country in 2011.

In general, social networking platforms are the major source of daily news for adolescents whereas people from older age groups primary use radio to stay updated on the news. In addition, micro blogging receives the less attention in all age groups.

Social networks are the dominant source, registered a markedly higher figure than the figure for radio and microblogging by two and three times respectively for people from 10-17 years old, by 80%. Meanwhile in the 18-29 age group, radio is the most popular media type with over 90%. 

In terms of the remaining age brackets, radio maintains its dominance while the usage rates of social networks and micro blogging become lower. Specifically in the oldest age group, social networks are only used by 10% of the senior citizens while only a fraction of this group’s populace chooses micro blogging. 

Các lỗi và đề xuất sửa lỗi:

  • Lỗi về thì:

Do đề bài đề cập đến số liệu năm 2011 nên bài viết (trừ phần mở bài) nên được viết ở thì quá khứ đơn. 

-> Sửa lỗi: Điều chỉnh các động từ đang chia ở thì hiện tại thành quá khứ đơn.

  • Lỗi ngữ pháp: 

Ở câu sau: ‘’Social networks are the dominant source, registered a markedly higher figure than the figure for radio and microblogging by two and three times respectively for people from 10-17 years old, by 80%.’’ 

- Động từ ‘’registered’’ ở đây đang là mệnh đề quan hệ rút gọn tuy nhiên chưa có sự chính xác. Do mệnh đề đầy đủ của của câu sẽ là: ‘’Social networks are the dominant source, which registers a markedly higher figure than the figure for radio and microblogging by two and three times respectively for people from 10-17 years old, at 80%.’’ Bởi vì đây là cấu trúc chủ động nên khi bỏ từ quan hệ thì mệnh đề quan hệ rút gọn sẽ phải chuyển từ ‘’registered’’ thành ‘’registering’’

-Ngoài ra, lượng từ ‘’the figure for’’ đang muốn nói đến cho cả hai đối tượng là radio và micro blogging nên danh từ ‘’figure’’ phải là danh từ số nhiều. 

-> sửa lỗi: ’Social networks are the dominant source, registering a markedly higher figure than the figures for radio and microblogging by two and three times respectively for people from 10-17 years old, at 80%

  • Lỗi sai về giới từ: 

Ở câu sau: ‘’Social networks are the dominant source, registered a markedly higher figure than the figure for radio and microblogging by two and three times respectively for people from 10-17 years old, by 80%.’’ 

-Giới từ ‘’by’’ ở đây sẽ không phù hợp do ‘’by’’ là giới từ chỉ số lượng thay đổi từ một cột mốc đến một cột mốc khác, thì số lượng thay đổi sẽ được sử dụng bởi giới từ này. 

-> Do đó, nên điều chỉnh thành giới từ ‘’at’’ vì giới từ này hướng đến 1 con số cụ thể, không có sự thay đổi. 

  • Lỗi về dấu câu:

Ở câu: ‘’ Meanwhile in the 18-29 age group, radio is the most popular media type with over 90%.‘’ 

-Cấu trúc của Meanwhile sẽ là ‘’Meanwhile, Subject + Verb.’’’ 

-> Sửa lỗi: thêm dấu phẩy sau ‘Meanwhile’’

Ở câu: ‘’Specifically in the oldest age group, social networks are only used by 10% of the senior citizens while only a fraction of this group’s populace chooses micro blogging. ‘’

-Specifically đang có vai trò là trạng từ trong câu và khi đứng ở đầu câu, trạng từ thường có tác dụng nối hay liên kết một mệnh đề với những gì đã được nói trước đó. Chức năng của trạng từ ở vị trí này là bổ nghĩa cho cả câu và sẽ luôn có dấu phẩy kèm theo. 

-> Sửa lỗi: thêm dấu phẩy sau ‘’Specifically’’

Lỗi về từ loại: 

Ở câu: ‘’In general, social networking platforms are the major source of daily news for adolescents whereas people from older age groups primary use radio to stay updated on the news. In addition, micro blogging receives the less attention in all age groups.’’

-Với câu đầu tiên ở mệnh đề thứ hai, động từ ‘’use’’ là một động từ thường và cần được bổ nghĩa bởi một trạng từ.

-> Sửa lỗi: Thay đổi ‘’primary’’ thành ‘’primarily’’

-Với câu thứ hai, người viết đang sử dụng cấu trúc so sánh nhất nên không thể sử dụng ‘’less’’ trong câu.

-> Sửa lỗi: Thay đổi ‘’less’’ thành  ‘’ least’’

Bài viết hoàn thiện: 

The bar chart illustrates the means of media which was used in distinct age groups to get daily news in one country in 2011.

In general, social networking platforms were the major source of daily news for adolescents whereas people from older age groups primarily used radio to stay updated on the news. In addition, micro blogging received the least attention in all age groups.

Social networks were the dominant source, registering a markedly higher figure than the figures for radio and microblogging by two and three times respectively for people from 10-17 years old, at 80%. Meanwhile, in the 18-29 age group, radio was the most popular media type with over 90%. 

In terms of the remaining age brackets, radio maintained its dominance while the usage rates of social networks and micro blogging became lower. Specifically, in the oldest age group, social networks were only used by 10% of the senior citizens while only a fraction of this group’s populace chose micro blogging. 

Tổng kết

Bài viết trên đã giới thiệu về tiêu chí Grammatical range and accuracy cũng như là các lỗi người viết thường mắc phải trong bài viết Task 1. Trong quá trình luyện tập viết bài, người học nên cố gắng kiểm soát tốt ngữ pháp của các cấu trúc câu để hình thành một thói quen tốt khi viết bài. Tuy nhiên, để đạt được điểm target thì người viết không chỉ tập trung vào mỗi một tiêu chí này mà phải tham khảo các đặc điểm của các tiêu chí còn lại.

Tham khảo thêm khóa học luyện thi IELTS online tại ZIM Academy, học viên được hướng dẫn cụ thể, sửa lỗi sai chi tiết, theo sát tiến độ và hỗ trợ trong suốt quá trình học tập.

Bạn muốn học thêm về nội dung này?

Đặt lịch học 1-1 với Giảng viên tại ZIM để được học sâu hơn về nội dung của bài viết bạn đang đọc. Thời gian linh hoạt và học phí theo buổi

Đánh giá

(0)

Gửi đánh giá

0

Bình luận - Hỏi đáp

Bạn cần để có thể bình luận và đánh giá.
Đang tải bình luận...
Tư vấn nhanh
Chat tư vấn
Chat Messenger
1900 2833